15:45 ICT Thứ hai, 16/12/2019

Trang nhất » Góc GV và HS » Sáng kiến kinh nghiệm

Sử dụng đồ dùng trực quan và các phương pháp tích cực trong việc giảng dạy môn GDCD ở trường THCS

Thứ tư - 16/01/2013 10:54
                                           MỤC LỤC
           Tóm tắt đề tài …………….………………….…………..Trang 2
A. Phần mở đầu..................................................... Trang 5
I. Lý do chọn đề tài....................................... …Trang 5
II. Đối tượng nghiên cứu.................................... Trang 7
III. Phạm vi nghiên cứu...................................... Trang 7
IV. Phương pháp nghiên cứu............................. Trang 8
B.Phần nội dung.................................................. Trang 10
1. Cơ sở lý luận……………………………………….Trang 9
2. Cơ sở thực tiễn……………………………………..Trang 10
3. Nội dung vấn đề……………………………………Trang 10
4. Kết quả thực hiện…………………………………..Trang 31
C. Phần kết luận............................................ …..Trang 33
          - Bài học kinh nghiệm………………………………..Trang 33
          - Hướng phổ biến, áp dụng đề tài ……………………Trang 33
                        - Tài liệu tham khảo …………………………………Trang 35
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
                                             TÓM TẮT ĐỀ TÀI
TÊN ĐỀ TÀI: “ Sử dụng đồ dùng trực quan và các phương pháp tích cực trong việc giảng dạy môn GDCD ở trường THCS”
                                                       A – MỞ ĐẦU                                    
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
1. Khách quan :
- GDCD là một môn học có tầm quan trọng trong nhà trường THCS.
- Dạy học GDCD là tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, lời nói và  hành vi.
- Môn GDCD góp phần đào tạo ra những công dân có tri thức khoa học có năng lực hoạt động.
2. Chủ quan:
- Sự xuống cấp và suy đồi đạo đức của một bộ phận công dân trong đó có tầng lớp học sinh.
- Giáo viên bộ môn và học sinh ít quan tâm hoặc xem là môn phụ.
- Từ mục tiêu đổi mới phương pháp và sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực, đồ dùng dạy học.
- Từ thực tế của địa phương và đơn vị…
II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
    Đề tài sáng kiến kinh nghiệm này nhằm tập trung nghiên cứu và tìm hiểu:
  - Việc phối hợp sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực và khai thác đồ dùng dạy học trong môn GDCD.
   - Các phương pháp tổ chức thực hiện trong  tiết học , giúp các em học sinh phát triển kỹ năng, nâng  cao ý thức học tập cho học sinh.
   -  Sự chuyển biến  của học sinh trong quá trình thực hiện các phương pháp.
III. PHẠM VI NGHIÊM CỨU :
Chia làm  3 giai đoạn:
- Giai đoạn I : Từ tháng 9/2011 đến tháng 11/2011( Đầu học kỳ I đến giữa học kỳ I): Điều tra tìm hiểu thực tế  nắm bắt tình hình và ý thức học tập của học sinh ( 192/86 nữ).
- Giai đoạn II: Từ tháng 11/2011 đến tháng 01/2012 ( Từ giữa học kỳ I đến cuối học kỳ I): Áp dụng các phương pháp và giải pháp tổng hợp để thực hiện  vào tiết dạy, đánh giá sự chuyển biến trong nhận thức của học sinh. Đồng thời tiếp tục có những giải pháp thật hiệu quả đưa ra kết quả so sánh, đối chiếu, khắc phục những tồn tại theo từng thời điểm cụ thể.
 - Giai đoạn III: Từ tháng 01/2012 đến cuối tháng 03/2012 (Từ đầu học kỳ II đến giữa học kỳ II): Kết hợp so sánh đối chiếu, kiểm tra kết quả thực tế đề ra từng giải pháp khắc phục tồn tại và hạn chế của học sinh đồng thời phát huy tối đa hiệu quả đạt được. Vẽ biểu đồ để so sánh đối chiếu kết quả. Nắm các số liệu thực tế và khả năng nhận thức của học sinh để đưa ra các biện pháp và giải pháp cụ thể cho tiết thực hành cuối học kỳ II.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Ở đề tài sáng kiến kinh nghiệm sử dụng một số phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện như: Kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan với kỹ thuật khăn trải bàn và sơ đồ tư duy; Tranh luận ủng hộ - phản đối; Kỹ năng đặt câu hỏi, động não... cần phải khai thác tình hình thực tế đó để giáo dục cho học sinh xử lý tình huống thể hiện qua cách (quan sát tranh ảnh, xem băng hình , sưu tầm và quay chụp hình ảnh ,quay phim…..)
                                                 B – NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Nghiên cứu các công văn chỉ đạo chuyên môn của ngành, sở, phòng ban.
Nắm chắc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Công văn chỉ đạo chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực.
2. Cơ sở thực tiễn:
- Ý thức bảo vệ môi trường của học sinh.
- Sự quan tâm của phụ huynh, người dân và chính quyền địa phương.
- Bản thân giáo viên với giáo dục môi trường cho học sinh.
- Tình hình cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường với đặc thù bộ môn.
3. Nội dung vấn đề:
3.1. Kỹ thuật động não với tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, bản đồ.
          3.2. Kỹ thuật đặt câu hỏi với bảng thống kê, số liệu.
3.3. Tranh luận ủng hộ - phản đối với phim tư liêu, Video clip tình huống.
3.4. Kỹ thuật nêu gương người tốt với những câu chuyện có thật trong cuộc sống, qua báo chí. 
3.5. Lựa chọn kỹ thuật dạy học và đồ dùng theo yêu cầu sách giáo viên có sưu tầm bổ sung phù hợp.
- Hoạt động giới thiệu bài .
- Tìm hiểu khái niệm, nội dung kiến thức cơ bản .
- Hoạt động củng cố, giáo dục cuối bài.
- Chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏi phù hợp với đồ dùng dạy học.
 
C - KẾT LUẬN CHUNG
1. Bài học kinh nghiệm:
- Sử dụng kịp thời, tránh tùy tiện.
- Phải suy nghĩ tìm tòi phù hợp với lứa tuổi học sinh.
- Lựa chọn các cách thức tổ chức phù hợp với thực tế trường học và địa phương.
- Hiểu và biết tường tận về kỹ thuật dạy học và đồ dùng dạy học.
- Phải xem kỹ thuật và đồ dùng dạy học là một loại hình kiến thức riêng biệt.
- Không được lạm dụng quá mức.
- Phải thường xuyên tự học tự tìm hiểu, tự nghiên cứu…
2. Hướng phổ biến áp dụng đề tài:
Qua việc nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy có thể áp dụng cho bộ môn GDCD ở các khối lớp trong trường THCS. Bên cạnh đó có thể áp dụng cho các môn thuộc lĩnh vực KHXH: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý …Trong những tiết thực hành ngoại khóa, dã ngoại….
Bản thân cũng mong đề tài này được đồng nghiệp trong và ngoài trường tiếp tục nghiên cứu ở nhiều khía cạnh và phát huy hơn nữa cho các năm học sau.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
 1. Khách quan:
Môn GDCD (Giáo dục công dân) có vị trí quan trọng trong nhà trường THCS. Môn học cung cấp cho học sinh một hệ thống chuẩn mực lối sống phù hợp với yêu cầu của xã hội ở mức độ phù hợp với lứa tuổi, giúp học sinh biết sống hoà nhập với cuộc sống hiện tại với tư cách là một công dân tích cực và năng động; góp phần quan trọng để hình thành những phẩm chất cần thiết của nhân cách con người Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và tăng cường khả năng hội nhập trong xu thế phát triển và tiến bộ của thời đại.
Mặt khác dạy học môn GDCD phải nhằm tạo ra sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa lới nói và hành vi. Như vậy, môn GDCD cần phải đảm bảo cung cấp cho học sinh những phương thức ứng xử về đạo đức, pháp luật, văn hoá trong cuộc sống, hình thành ở mỗi học sinh sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, hướng học sinh vào việc thực hành trong cuộc sống hàng ngày các chuẩn mực và mẫu hành vi tích cực mà bài học đặt ra; khơi dậy trong học sinh ý chí thể hiện sự thống nhất đó. 
Cùng với những môn học khác, môn GDCD góp phần đào tạo những người công dân mới vừa có tri thức khoa học vừa có năng lực hoạt động thực tiễn, có ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước. Từ đó các em thấy rõ trách nhiệm của mình: Luôn luôn có ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp, Pháp luật, biết tự rèn luyện bản thân để trở thành người công dân hữu ích cho quê hương, đất nước.
Vì vậy, để phát huy tính tích cực của học sinh thì việc sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học là điều kiện hết sức quan trọng giúp học sinh chiếm lĩnh các giá trị, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật thông qua việc nắm tri thức, thực hành và rèn luyện trong và ngoài giờ học.
 2. Chủ quan:
Những năm gần đây, đạo đức của một bộ phận xã hội đang chiều hướng xuống cấp, tội phạm của những người chưa thành niên có chiều hướng gia tăng, một trong những nguyên nhân dẫn đến các em có lối sống buông thả, thiếu văn hoá, phạm tội là do hiểu biết về các giá trị đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và pháp luật của các em còn hạn chế. Vì vậy giáo dục đạo đức, pháp luật trong nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần quan trọng trong việc giáo dục và rèn luyện con  người ý thức tuân theo những chuẩn mực của đạo đức xã hội và tuân theo pháp luật.
Bên cạnh đó trước đây, phần lớn giáo viên dạy bộ môn này là giáo viên chủ nhiệm hoặc những giáo viên những bộ môn khác được phân công giảng dạy nên họ không có điều kiện và ít quan tâm đến việc đầu tư cho bài giảng, chưa có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm khai thác và sử dụng kênh hình trong các tiết dạy. Do đó hiệu quả giờ dạy đạo đức, pháp luật chưa cao, các em hiểu biết về các chuẩn mực đạo đức, pháp luật còn mơ hồ.
Những năm gần đây, phần lớn giáo viên dạy bộ môn này đã được đào tạo chính qui, được phân công chuyên giảng dạy bộ môn này, nên họ rất quân tâm đến việc đầu tư cho từng tiết dạy, đặc biệt là họ rất quan tâm đến việc sử dụng đồ dùng trực quan và áp dụng các phương tiện hiện đại trong giảng dạy môn GDCD. Chính vì lẽ đó mà chất lượng và hiệu quả giờ dạy đạo đức, pháp luật được nâng cao hơn trước.
Môn GDCD ở trường THCS trước đây thường bị coi làm môn học phụ nên các giờ học thường diễn ra một cách đơn điệu, khô khan, phương pháp chủ yếu là phương pháp thuyết trình. Trong giờ học, học sinh được hoạt động ít, thụ động, giờ học không gây hứng thú, đồ dùng dạy học ít được sử dụng hoặc sử dụng một cách hình thức. Nên đó chưa phải là là phương pháp tích cực vì học sinh chưa thực sự có cơ hội để thể hiện thái độ, lập trường của cá nhân mình. Những giờ học như vậy, học sinh ít có khả năng sáng tạo.
Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Với định hướng lấy học sinh làm trung tâm giáo viên cần đa dạng hoá các phương pháp dạy học đảm bảo hiệu quả cao và học sinh tích cực, chủ động trong học tập.Vì vậy việc dạy đạo đức, pháp luật giáo viên không chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình, đàm thoại mà còn phải sử dụng các kỹ tthuật dạy học và đồ dùng trực quan. Tức là sử dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học nhằm minh hoạ cho nội dung bài giảng (Như: tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, băng hình, băng tiếng, bảng số liệu, thống kê…). Thông qua các đồ dùng trực quan học sinh có thể tiếp thu tri thức thiết lập mối quan hệ giữa nội dung kiến thức với thực tế cuộc sống. Các em biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, vào trong vấn đề cụ thể hàng ngày. Cho nên giờ học đạo đức, pháp luật rất sôi nổi, chất lượng giờ dạy được nâng cao, học sinh nắm bắt các chuẩn mực của đạo đức, pháp luật chắc và nhanh.
       Trong những năm gần đây công tác bồi dưỡng chỉ đạo chuyên môn của Phòng giáo dục và Đào tạo ngày càng chặt chẽ hơn, các cụm chuyên môn được quan tâm, sinh hoạt tương đối hiệu quả. Bên cạnh đó, tại đơn vị, công tác chỉ đạo đổi mới phương pháp được thống nhất từ Ban giám hiệu đến các tổ, nhóm và từng cá nhân, đặc biệt là sử dụng đồ dùng dạy học có kết hợp các phương tiện hiện đại sẽ góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy nhiều hơn, mỗi giáo viên dạy Giáo dục công dân đều xác định rằng:“ Muốn cho giờ dạy đạo đức, pháp luật không bị khô cứng và tẻ nhạt phải sử dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại kết hợp với đồ dùng trực quan” giúp học sinh nắm vững kiến thức theo nguyên lí:“ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện chứng của nhân thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” (Lê nin).
       Mặt khác, trong những năm gần đây nhà trường đã từng bước trang bị các phương tiện phục vụ cho giảng dạy như máy tính, mạng Internet, máy chiếu nên việc sưu tầm tư liệu như tranh ảnh rất thuận tiện. Vì vậy, mỗi giáo viên đều suy nghĩ, tìm tòi để làm sao nâng cao chất lượng sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy bộ môn GDCD nhằm đem lại hiệu quả cao trong việc dạy và học bộ môn này.
       Từ những cơ sở thực tiễn trên đây đòi hỏi phải có sự thay đổi về phương pháp dạy học. Muốn làm được điều đó, giáo viên phải là những người tổ chức, điều khiển các hoạt động học tập, hạn chế tối đa sự độc thoại của thầy bằng cách sử dụng đồ dùng dạy học một cách trực quan, phong phú,  tạo ra sự hấp dẫn trong tiết học, học sinh chủ động tiếp cận đồ dùng dạy học, phân tích, đánh giá từ đó rút ra nội dung bài học. Như vậy học sinh có cơ hội tối đa phát triển tính độc lập, sáng tạo, chủ động tiếp thu kiến thức, nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng, còn người giáo viên chỉ là người tổ chức tiết học thành môi trường để học sinh học mà thôi.
II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :
    Đề tài sáng kiến kinh nghiệm này nhằm tập trung nghiên cứu và tìm hiểu:
  - Việc phối hợp sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực và khai thác đồ dùng dạy học trong môn GDCD.
   - Các phương pháp tổ chức thực hiện trong  tiết học, giúp các em học sinh phát triển kỹ năng, nâng cao ý thức học tập cho học sinh.
   -  Sự chuyển biến của học sinh trong quá trình thực hiện các phương pháp.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
Từ quá trình tìm hiểu nghiên cứu được tham gia các lớp tập huấn. Nắm được các tài liệu  của các ngành chức năng và thực tế giảng dạy trên lớp cũng như ở địa phương, việc kiểm tra đánh giá trước, trong và sau tiết học môn GDCD tại trường THCS Nguyễn Bá Phát. Thông qua việc thực hiện các kỹ thuật dạy học và đồ dùng dạy học bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau qua tiết học. Như vậy đó là một quá trình có sự phối hợp chặt chẽ để thực hiện có hiệu quả. Quá trình đó được chia làm các giai đoạn sau:
- Giai đoạn I : Từ tháng 9/2011 đến tháng 11/2011( Đầu học kỳ I đến giữa học kỳ I): Điều tra tìm hiểu thực tế nắm bắt tình hình và ý thức học tập của học sinh ( 192/86 nữ).
- Giai đoạn II: Từ tháng 11/2011 đến tháng 01/2012 ( Từ giữa học kỳ I đến cuối học kỳ I): Áp dụng các phương pháp và giải pháp tổng hợp để thực hiện  vào tiết dạy, đánh giá sự chuyển biến trong nhận thức của học sinh. Đồng thời tiếp tục có những giải pháp thật hiệu quả đưa ra kết quả so sánh, đối chiếu, khắc phục những tồn tại theo từng thời điểm cụ thể.
 - Giai đoạn III: Từ tháng 01/2012 đến cuối tháng 03/2012 (Từ đầu học kỳ II đến giữa học kỳ II): Kết hợp so sánh đối chiếu, kiểm tra kết quả thực tế đề ra từng giải pháp khắc phục tồn tại và hạn chế của học sinh đồng thời phát huy tối đa hiệu quả đạt được. Vẽ biểu đồ để so sánh đối chiếu kết quả. Nắm các số liệu thực tế và khả năng nhận thức của học sinh để đưa ra các biện pháp và giải pháp cụ thể cho tiết thực hành cuối học kỳ II.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
GDCD là một môn học không chỉ là việc tiếp thu kiến thức mà còn phải biết vận dụng liên hệ mở rộng ở thực tế, xử lý được các tình huống diễn ra trong đời sống hằng ngày. Đòi hỏi ở học sinh một quá trình rèn luyện vận dụng thuần thục và trở thành kỹ năng, hình thành năng lực phẩm chất nhân cách và ý thức cho học sinh.
Ở đề tài sáng kiến kinh nghiệm sử dụng một số phương pháp và hình thức tổ chức thực hiện như: Kết hợp sử dụng đồ dùng trực quan với kỹ thuật khăn trải bàn và sơ đồ tư duy; Tranh luận ủng hộ - phản đối; Kỹ năng đặt câu hỏi, động não... cần phải khai thác tình hình thực tế đó để giáo dục cho học sinh xử lý tình huống thể hiện qua cách (quan sát tranh ảnh, xem băng hình , sưu tầm và quay chụp hình ảnh ,quay phim…..)
 
 
B.  NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Kỹ thuật dạy học tích cực là thông qua các hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm rèn luyện phương pháp tự học, kích thích sự đam mê tăng cường sự hợp tác, giao tiếp chia sẻ kinh nghiệm đồng thời tạo ra môi trường học tập thoải mái cho học sinh… Kết hợp sự đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò.
Đồ dùng dạy học ở đây được hiểu là những phương tiện, thiết bị vật chất được sử dụng trong quá trình dạy học như Tư liệu, tranh, ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, bảng thống kê, số liệu, phim tình huống, phim tư liệu, trò chơi… Ngoài ra, ta có thể sử dụng một số đồ dùng thông thường trong gia đình, trong sinh hoạt: Dùng để sắm vai, chơi trò chơi; Thông báo hay trình bày thông tin, giới thiệu vào bài, minh họa, giải thích, mô tả trực quan. Tổ chức và tiến hành các hoạt động, kết thúc bài học và giáo dục học sinh.
Tác dụng của phối hợp các kỹ thuật dạy học và đồ dùng trực quan:
Tạo điều kiện để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, loại trừ khuynh hướng dạy chay làm cho các giờ học khô khan, mang tính chất lý thuyết, áp đặt đối với học sinh.
Làm tăng tính hấp dẫn đối với nội dung học tập, gây hứng thú học tập ở học sinh.
Làm cho việc học trở nên dễ dàng hơn, thuận lợi hơn, đây là nguồn cung cấp các chất liệu để học sinh khai thác nội dung học tập một cách tích cực, tự giác. Trong dạy học đổi mới, học sinh hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Nếu không có các kỹ thuật và đồ dùng, thiết bị dạy học thì việc tổ chức các hoạt động của học sinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn, do đó kết quả học tập không đạt yêu cầu mong muốn.
Mỗi hoạt động dạy học được xây dựng trên cơ sở vận dụng một phương pháp dạy học cụ thể, có phương tiện dạy học phù hợp để hỗ trợ cho hoạt động đó. Vì vậy sử dụng phương tiện dạy học phải đúng lúc, đúng chỗ, kịp thời, tránh đưa ra một cách tuỳ tiện.
Một yêu cầu rất quan trọng là sử dụng kỹ thuật và đồ dùng dạy học phải có tác dụng kích thích học sinh tư duy, suy nghĩ, tìm tòi, không phải chỉ như một phương tiện minh hoạ nội dung bài học. Khi sử dụng thiết bị, phương tiện dạy học là giáo viên cung cấp cho học sinh những chất liệu cần thiết để học sinh tìm tòi, tự kiến tạo tri thức, kỹ năng trên cơ sở làm việc với nguồn thông tin từ các phương tiện dạy học mà giáo viên trình bày, giới thiệu, học sinh phải có ý kiến nhận xét, đánh giá về nội dung, tính chất sự việc, rút ra kết luận bài học cần thiết.
Mặt khác, đổi mới phương pháp dạy học không chỉ là đổi mới phương tiện và không có nghĩa là dùng nhiều phương tiện dạy học, mà điều quan trọng là sử dụng phương tiện dạy học một cách hợp lý, có hiệu quả, tránh lạm dụng hoặc sử dụng một cách hình thức, tránh xu hướng sử dụng tràn lan, không có chủ đích rõ rệt, cần được khai thác một cách triệt để.
2. Cơ sở thực tiễn:
Dạy đạo đức, pháp luật cũng như tất cả các môn học khác là phải sử dụng các kỹ thuật dạy học và đồ dùng trực quan để minh hoạ cho nội dung bài giảng. Trong các tiết dạy đạo đức, pháp luật hiện nay rất đa dạng và phong phú trong giai đoạn hiện nay khi khoa học công nghệ đang phát triển, mạng Intenet dang được sử dụng ngày càng rộng rãi. Vì vậy, trong một tiết dạy giáo viên có thể sử dụng nhiều kỹ thuật và đồ dùng trực quan khác nhau vào những mục đích khác nhau nhằm làm cho bài giảng thêm hấp dẫn, đạt hiệu quả cao. Từ thực tiễn giảng dạy tôi thấy cần phải chuẩn bị như sau:
           Muốn sử dụng các kỹ thuật dạy học và đồ dùng trực quan đạt hiệu quả cao trong mỗi bài dạy đạo đức, pháp luật, người giáo viên dạy GDCD phải chuẩn bị  rất kỹ. Do những đồ dùng trực quan sử dụng trong các tiết dạy đạo đức, pháp luật ít có sẵn nên việc chuẩn bị đồ dùng cho một tiết dạy khá công phu đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư về mặt thời gian, công sức, trí tuệ và lòng nhiệt tình.
Trước hết người giáo viên phải xác định xem trong tiết dạy này cần sử dụng các kỷ thuật nào? loại đồ dùng gì? Bảng, phấn, giấy, bút, thước; tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, sơ đồ; phiếu học tập, bảng phụ…hay các loại phương tiện kỹ thuật nghe nhìn như máy băng đĩa ghi âm, máy chiếu các bản in, máy băng đĩa hình,  các phương tiện đa chức năng như máy tính, máy chiếu, các phần mềm dạy học trên máy vi tính…
Khi đã xác định được bài dạy này cần sử dụng những loại  nào thì người giáo viên sẽ bắt tay vào công việc chuẩn bị và tiến hành thực hiện.  
3. Nội dung vấn đề:
Mục tiêu của đề tài này là tìm ra những cách thức tổ chức hiệu quả nhất trong việc thực hiện đề tài:“ Sử dụng đồ dùng trực quan và phương pháp dạy học tích cực trong việc giảng dạy môn GDCD trường THCS” nhằm hình thành ý thức cho học sinh hoàn thiện kỹ năng thành thạo giúp học sinh năng động sáng tạo hơn trong học tập. Mỗi cách thức tổ chức đều có mặt tích cực và hạn chế riêng, phù hợp với từng đối tượng học sinh và đòi hỏi những điều kiện thực hiện riêng. Vì vậy cần lựa chọn và sử dụng kết hợp các cách thức tổ chức phù hợp với nội dung của tiết học, trình độ nhận thức của học sinh, năng lực, sở trường của giáo viên, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của lớp, của trường. Từ mục tiêu nghiên cứu đó bản thân tôi đã áp dụng và thử nghiệm các cách thức tổ chức lớp học và tiến hành tiết dạy như sau:
 Ví dụ 1: Khi dạy tiết ngoại khóa : An toàn giao thông tôi thấy ở bài này cần phối hợp sơ đồ KWL và sơ đồ tư duy, khăn trải bàn với các đồ dùng sau:
  • Máy vi tính.
  • Máy chiếu Projector.
  • Hình vẽ các biển báo, đèn tín hiệu….
  • Phiếu học tập, bảng phụ, bút dạ.
  • Băng hình, tranh ảnh về các tình huống đi đường
  • Thông tin, số liệu, hình ảnh về tình hình trật tự ATGT.      
Từng bài dạy giáo viên cần biết trong phòng đồ dùng của nhà trường đã có những đồ dùng nào, nếu thiếu thì tiến hành làm và sưu tầm, cố gắng vận động học sinh cùng tham gia: vẽ tranh, sưu tầm tranh ảnh, tìm số liệu, khi cần có thể tự quay hoặc nhờ đồng nghiệp quay những đoạn phim tư liệu ngắn hoặc các tình huống.
4gt 2gt
   Biển báo nguy hiểm                       Biển báo cấm                            Biển báo chỉ dẫn
22gt 14gt
                 Đi hàng ba, hàng tư                                               Đá bóng dưới lòng đường
080822195348-667-559 pic_2009_10_06_11_52_52
       Tuyên truyền An toàn giao thông                          Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ
Khi đã có những đồ dùng cần sử dụng, tôi tiến hành nghiên cứu thật kỹ phân loại từng ký hiệu trên bản đồ, hình vẽ, tìm hiểu  chi tiết nội dung, ý nghĩa của từng bức tranh, hình vẽ, ý nghĩa của những số liệu bằng sơ đồ để khi lên lớp giảng dạy được tốt. Trong quá trình sưu tầm tư liệu tôi cố gắng tích lũy và sắp xếp chúng theo từng chủ đề khác nhau như: chủ đề về An toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS, Thanh niên, Hôn nhân gia đình, Hội nhập quốc tế, Bộ máy Nhà nước, Các chuẩn mực đức. Trong từng chủ đề có các thể loại tư liệu khác nhau: Phim tư liệu, tình huống, tranh ảnh, mẫu chuyện… những tư liệu này không chỉ dạy học ở lớp 9 mà còn những lớp khác tùy theo chủ đề để lựa chọn. Việc sắp xếp này cũng giúp cho giáo viên dễ dàng trong việc lấy dùng khi cần thiết, giáo viên có thể trình chiếu trực tiếp, thiết kế giáo án điện tử hoặc photo ra giấy để dạy.
          Để làm được những điều đã trình bày thi người giáo viên phải có những am hiểu tình hình chính trị xã hội chủa địa phương, đất nước, phải cập nhật thông tin trên đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, trên mạng Internet để  kịp thời bổ sung những tranh ảnh, bài viết, số liệu mới để đảm bảo tính chính xác, cập nhập của bài giảng. 
Muốn sử dụng tốt các kỹ thuật và đồ dùng trực quan có hiệu quả, trước hết người giáo viên cần xác định loại kỹ thuật và phương tiện cần sử dụng, tác dụng của nó đối với bài giảng.
3.1.Kỹ thuật động não với tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, bản đồ:
Những đồ dùng trực qua này sẽ có tác dụng gây ấn tượng sâu sắc trong ký ức mỗi học sinh. Nếu người giáo viên sử dụng tốt các phương tiện đó sẽ giúp cho học sinh phát triển được óc quan sát, trí tưởng tượng, khả năng tư duy liên hệ thực tế. Nó còn giúp học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những điều thu nhận được.
          Ví du 1: khi dạy bài 4: Bảo vệ hòa bình (GDCD 9) chúng ta có thể giới thiệu đến học sinh những bức tranh.
          Khi xem những bức ảnh này học sinh sẽ hình dung được:
  • Hậu quả to lớn của chiến tranh.
  • Ngày nay chiến tranh vẫn xảy ra nhiều nơi trên thế giới
  • Trách nhiệm của cộng đồng thế giới, mỗi quốc gia, mỗi con người phải làm gì để ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hòa bình.
370px-Nagasakibomb news_1250235344
       Mỹ ném bom nguyên tử Nhật bản                            Hậu quả của chiến tranh
6b[1] nhan%20ngu
         Bảo vệ trật tự xã hội                                                      Bảo vệ Tổ Quốc
demo23 1242057907
                    Biểu tình vì hòa bình                                               Vẽ tranh vì hòa bình
          Ví du 2: Khi dạy bài 17: Nhà nước CH XHCN Việt Nam (Lớp 7); bài 18: Bộ máy Nhà nước cấp cơ sở (Lớp 7); Bài 20: Hiến pháp nước CH XHCN Việt Nam (Lớp 8), giáo viên có thể giới thiệu các sơ đồ sau, nhằm giúp học sinh hiểu được một cách dễ dàng cơ cấu tổ chức Nhà nước ta từ trung ương đến địa phương:
- Cơ quan quyền lực Nhà nước CH XHCN Việt Nam.
- Tổ chức bộ máy nhà nước CH XHCN Việt Nam.
- Cơ cấu tổ chức cơ quan hành chính nhà nước CH XHCN Việt Nam.
- Cơ cấu tổ chức cơ quan xét xử nước CH XHCN Việt Nam
- Cơ cấu tổ chức cơ quan kiểm sát nước CH XHCN Việt Nam.
 
 


 


          Ví dụ 3: Khi dạy bài: Ngoại khóa: An toàn giao thông giáo viên có thể đưa ra “Biểu đồ so sánh tai nạn giao thông theo từng tháng năm 2009 và 2010
          Mục đích: Nhằm giúp học sinh so sánh tình hình tai nạn giao thông 2 năm gần nhất về số người chết theo từng tháng (có so sánh cùng thời điểm của 2 năm 2009, 2010) từ đó có cái nhìn khái quát về tình hình tai nạn giao thông cả nước.
BD
Biểu đồ so sánh tai nạn giao thông theo từng tháng năm 2008 và 2009:
          Ví dụ 4: Khi dạy bài: Ngoại khóa: Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (lớp 9) giáo viên có thể giới thiệu “Bản đồ hành chính Việt Nam:
          Qua bản đồ giúp học sinh hiểu được:
- Đất nước ta, vị trí tiếp giáp với nước ngoài, một phần đất nước ngoài biển khởi (Hoàng Sa, Trường Sa)
- Xác định được vùng trời, vùng biển, những tất đất thiêng liêng của Tổ Quốc
Hình thành ý thức  công dân, nghĩa vụ đối với đất nước
          Ví dụ 5: Khi dạy bài: Ngoại khóa “An toàn giao thông giáo viên có thể giới thiệu “Lược đồ mạng lưới giao thông đường sắt Việt Nam” để :
- Giới thiệu mạng lưới giao thông đường sắt ở Việt Nam và đặc điểm  của đường sắt nước ta: Hầu hết các đường bộ đều giao cắt với đường sắt trên cùng một mặt phẳng (đoạn đường đó gọi là đường ngang). Ở nước ta có khoảng hơn 1000 đoạn đường như vậy, trên các đoạn đường đó thường xảy ra tai nạn vô cùng nguy hiểm.
- Tìm những biện pháp đảm bảo an toàn khi đi qua đoạn đường bộ giao cắt với đường sắt.
- Biết bảo vệ tài sản trên đường sắt, tránh việc ném đá lên tàu, đảm bảo an toàn tại địa phương nơi tàu đi qua
ban do duong sat vn
    Đường bộ giao với đường sắt                                  Bản đồ hành chính Việt nam
3.2. Kỹ thuật đặt câu hỏi với bảng thống kê, số liệu:
          Bảng thống kê, số liệu ấy sẽ  là những minh chứng có sức thuyết phục nhất, sinh động nhất về thực tiễn cuộc sống. Giúp học sinh có cái nhìn thực tế, thiết thực so với lý thuyết chung chung, Từ đó các em nắm bài vững, hiểu bài sâu.
          Ví dụ 1: Khi dạy bài  Ngoại khóa: An toàn giao thông giáo viên có thể đưa ra “Bảng thống kê tình hình tai nạn giao thông và đặt câu hỏi cho học sinh:
  • Tai nan giao thông để lại những tổn thất to lớn như thế nào?
  • Tình hình tai nạn giao thông diễn biến phức tạp như thế nào?.
  • Em hãy đề ra những giải pháp góp phần hạn chế tai nạn giao thông?    
Tai nạn giao thông
    ( Toàn quốc)
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Tỉ lệ tăng, giảm so với năm trước
Số vụ 11.522 12.492 11.449 Giảm  4,4%
Số người chết 10.397 11.516 10.633 Giảm  4,0%
Số người bị thương 7413 7914 6723 Giảm 8,1%
Tai nạn giaothông
  ( TP Đà Nẵng)
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Tỉ lệ tăng, giảm so với năm trước
Số vụ 158 114 213 Tăng 30,3%
Số người chết 115 105 149 Tăng 17,3%
Số người bị thương 24 68 163 Tăng 41,12%
Bảng thống kê tình hình tai nạn giao thông của cả nước và TP Đà Nẵng.
Ví dụ 2 : Khi dạy bài 14: “ Phòng, chống nhiễm HIV/ AIDS”  (GDCD 8) giáo viên có thể giới thiệu Bảng thống kê tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam”  nhằm giúp học sinh:
 Thấy được nguy cơ, mức độ lây lan nhanh chóng của đại dịch HIV/AIDS ở nước ta đối với tất cả mọi người, không phân biệt độ tuổi, giới tính, tầng lớp
          Thấy được sự nguy hiểm của căn bệnh thế kỉ. Có ý thức phòng ngừa và tuyên truyền mọi người phòng chống sự lây lan của HIV/AIDS.
 Tránh phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS.
Cả nước Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm  2010
Số người nhiễm HIV 104. 111 128.367 138.191 156.307 180.312
Số  bệnh nhân AIDS 17. 289 25.219 29.575 34.110 42.399
Số người tử vong vì AIDS   10. 071   14.042   41.544 21.633    36.101
Bảng thống kê tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam.
3.3. Tranh luận ủng hộ - phản đối với phim tư liêu, Video clip tình huống:
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc tìm những thước phim tư liệu, phóng sự điều tra, Video clip tình huống không còn qua khó khăn đối với người giáo viên, những tư liệu này có rất nhiều trên Iternet. Điều quan trọng là người giáo viên phải biết lựa chọn cho phù hợp với từng bài học, vừa mang tính giáo dục cao.
Trong quá trình giảng dạy của mình, tôi đã cố gắng sưu tầm, sắp xếp các loại tư liệu này thành những chuyên mục, các đoạn phim có thể sử dụng dạy nhiều lớp khác nhau với cùng một chủ đề sau đó trình chiếu cho học sinh xem , học sinh tranh luận nêu quan điểm ủng hộ hay phản đối..
Ví dụ 1: Khi dạy bài  Lý tưởng sống của thanh niên” (GDCD 9) tôi sẽ cho học sinh xem đoạn Video clip hình ảnh về Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc, Video clip về “Thanh niên tình nguyện” đi đến vùng sâu, vùng xa, Video clip về thanh thiếu niên ăn chơi hư hỏng, đánh bạc đua xe…nhằm giúp học sinh:
- So sánh hai lối sống đối lập nhau và hậu quả của việc ăn chơi hư hỏng.
- Thấy được trách nhiệm to lớn của thanh niên trong sự nghiệp Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
- Có ý thức phấn đấu rèn luyện của bản thân, có nhu cầu cống hiến vì sự nghiệp chung.
Ví dụ 2:   Khi dạy bài  Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý của công dân” (GDCD 9) tôi sẽ cho học sinh xem những đoạn Video clip “Buôn bán ma túy”, “Học sinh đi hàng ba, hàng tư”, “lấn chiếm lòng, lề đường”, “Đi xe trong sân trường” nhằm giúp học sinh xác định các khái niệm:
  • Vi phạm pháp luật hình sự.
  • Vi phạm pháp luật hành chính.
  • Vi phạm pháp luật dân sự.
  • Vi phạm kỉ luật.
* Có ý thức chấp hành tốt các quy định của pháp luật và nôi quy của nhà trường.
Ví dụ 3:   Khi dạy bài 12:Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân” (GDCD 9) tôi sẽ cho học sinh xem đoạn Video clip về “Bạo lực gia đình”, nhằm giúp học sinh thấy được đó là hành vi vi phạm pháp luật cần lên án, qua đó giúp các em liên hệ đến gia đình mình, nơi em ở từ đó giáo dục ý thức trách nhiệm của mình đối với gia đình.
3.4. Kỹ thuật nêu gương người tốt với những câu chuyện có thật trong cuộc sống, qua báo chí.                          
Những câu chuyện ấy sẽ là phương tiện minh hoạ chân thực nhất, sống động nhất góp phần làm cho bài giảng thêm hấp dẫn, tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của học sinh. Thông qua những câu chuyện thực tế giáo viên bồi dưỡng cho học sinh những quan điểm đúng đắn, các em biết yêu ghét rõ ràng; biết bênh vực những việc làm, hành động đúng; biết đấu tranh với những hành động, việc làm sai trái, vi phạm nội qui trường lớp, vi phạm pháp luật.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 8 Năng động sáng tạo” (GDCD 9) tôi đã kể cho học sinh nghe câu chuyện về “Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký” dù phải viết bằng chân nhưng đã vượt qua khó khăn, vượt qua số phận để trở thành “Nhà giáo ưu tú”, câu chuyện về “Thần đèn Nguyễn Cẩm Lũy” chỉ học hết tiểu học nhưng có “biệt tài” di dời các công trình. Từ đó giúp học sinh có ý thức vươn lên trong cuộc sống, biết vượt qua khó khăn, năng động, sáng tạo trong công việc vươn tới thành công, có đóng góp cho xã hội.
http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:E98a_0MuPTF2PMchuavinhnghiem1 http://t1.gstatic.com/images?q=tbn:8_HZtXxs5ACzKM:http://gdtd.vn/dataimages/200910/original/images269968_a1tr4.jpgvietnam_30069529_emphu108

Cổng Tam quan được “Thần đèn”Nguyễn Cẩm Lũy di dời đến địa điểm hiện nay
 
Thầy giáo
Nguyễn Ngọc Ký
 
 
Ví dụ 2:   Khi dạy Bài 6: Hợp tác cùng phát triển” (GDCD 9) tôi sẽ kể về tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam và vai trò của Bác Vũ Khoan và Bác Trương Đình Tuyển trong công tác đàm phám. Việc gia nhập WTO có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với Việt Nam. Khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và  trên con đường hội nhập.
   
avatar images897237_vukhoan images1479711_IMG_0076
       
  Lễ kí Việt nam gia nhập WTO       Bác Vũ Khoan             Bác Trương Đình Tuyển
3.5. Lựa chọn kỹ thuật dạy học và đồ dùng theo yêu cầu sách giáo viên có sưu tầm bổ sung phù hợp:
          Đây là khâu quan trọng quyết định hiệu quả giờ dạy, nếu dựa vào ý thích chủ quan của bản thân thì rất dễ bị sai lầm. Nếu sử dụng tuỳ tiện sẽ lạc chủ đề và phản tác dụng giáo dục, hiệu quả giờ dạy sẽ thấp. Khi chuẩn bị bài lên lớp, giáo viên cần hiểu được: giảng bài này cần sử dụng kỹ thuật, phương tiện, đồ dùng trực quan gì? Và sử dụng khi nào? Vào mục đích gì? Để phù hợp với nội dung bài giảng, vừa sát hợp với thực tiễn cuộc sống vừa có tính giáo dục cao.
          Theo tôi, muốn sử dụng đồ dùng dạy học phù hợp yêu cầu từng bài giảng và mang lại hiệu quả cao, người giáo viên cần chú ý những vấn đề sau:
3.5.1. Phải xác định nội dung cơ bản của bài trên cơ sở chuẩn kiến thức sách giáo khoa về mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ từ đó lựa chọn phương tiện, đồ dùng phù hợp.
          Ví dụ: Khi dạy bài 7: Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc” (GDCD 9) tôi đã xác định định yêu cầu cơ bản của bài này:
- Kiến thức :  Hiểu thế nào là truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Ý nghĩa của truyền thống dân tộc và sự cần thiết phải kế thừa. Trách nhiệm của công dân
- Kĩ năng :Biết phân biệt truyền thống tốt đẹp với phong tục, tập quán lạc hậu cần xóa bỏ.
- Thái độ : Tôn trọng, bảo vệ, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Phê phán những hành vi thiểu tôn trọng  xa rời truyền thống dân tộc. Từ đó quyết định chọn lựa đồ dùng sau:
          - Tranh ảnh các làng nghề truyền thống, lễ hội Cầu ngư (Miền Trung), các Video Clip: Lễ hội Đền Hùng, lễ hội Chùa Hương, ca trù, Cồng chiêng Tây Nguyên, múa rối nước. Nhằm giúp học sinh hiểu rõ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
          - Tranh ảnh về mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu nhằm giúp học sinh hình thành kĩ năng phân biệt được truyền thống tốt đẹp với mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu.
images1785341_20320033 Mua-roi-nuoc
  Lễ hội cầu ngư ở Nam Ô – Đà Nẵng                        Múa rối nước
3.5.2. Tìm hiểu kĩ  yêu cầu từng bài về kỹ thuật, phương tiện, đồ dùng dạy học:
          Đây chính là một trong những cơ sở để giáo viên lựa chọn đồ dùng trực quan nhằm đảm bảo tính chính xác, phù hợp với yêu cầu bài giảng, đảm bảo tính khoa học của bộ môn.
          Ví dụ 1: Khi dạy bài 16: Quyền tham gia quản lí Nhà nước và xã hội của công dân” (GDCD 9) SGV đã chỉ dẫn cho người giáo viên những đồ dùng trực quan cần minh hoạ cho bài giảng là:
  • Luật khiếu nại, tố cáo.
  • Luật bầu cử đại biểu Quốc hội.
  • Luật bầu cử đại biểu HĐND.
  • Sơ đồ nội dung bài học.
          Từ đó giáo viên có thể chuẩn bị thêm hình ảnh, băng hình, mẫu chuyện có liên quan đến bài học để nội dung bài giảng sinh động hơn.
          Ví dụ 2: Khi dạy bài 15: Phòng ngừa tai nạn, vũ khí, cháy nổ và các chất độc hại” (GDCD 8) Sách giáo viên đã ghi rõ ở mục tài liệu và phương tiện để giáo viên chuẩn bị như sau:
  • Luật Hình sự năm 1999.
  • Luật phòng cháy và chữa cháy.
  • Các thông tin, sự kiện trên sách, báo về tai nạn, vũ khí, cháy nổ và các chất độc hại.
Giáo viên có thể bổ sung thêm hình ảnh, băng hình, mẫu chuyện có liên quan đến bài học để tăng thêm tính thời sự của bài dạy.
3.5.3. Luôn theo dõi tình hình thực tế, thời sự, báo, đài, có phong cách sống chuẩn mực:
          Đây là kinh nghiệm rất bổ ích giúp người giáo viên có vốn kiến thức, hiểu biết sâu rộng mà để khai thác, sử dụng đồ dùng trực quan, làm cho việc sử dụng các phương tiện, đồ dùng này hay hơn, hấp dẫn hơn và đạt hiệu quả cao. Tìm đọc tài liệu tham khảo và tìm hiểu tình hình thực tế để giáo viên có thêm cơ sở lựa chọn các hình ảnh, phương tiện minh hoạ cho bài giảng điển hình nhất, mới nhất, sát hợp với thực tiễn và có tính giáo dục cao.
          Ví dụ 1: Khi dạy bài 18: Sống có đạo đức và tuân theo pháp luật” (GDCD 9). Với bài này, yêu cầu giáo viên cần chuẩn bị một số bộ luật quan trọng:
  • Luật di sản văn hóa.
  • Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
  • Luật Hôn nhân gia đình.
  • Một số Nghị quyết của Đảng về Giáo dục - đào tạo, Khoa học công nghệ, về văn hóa.
  • Ngoài ra giáo viên cần tìm hiểu những tấm gương về danh nhân đất nước, địa phương những tấm gương tiêu biểu được giới thiệu trên truyền hình “Người đương thời”; cần đọc và có hiểu biết về kiến thức chính trị xã hội.
  • Bản thân giáo viên phải là người sống có đạo đức, có lí tưởng, yêu trẻ, yêu nghề, mẫu mực trong cuộc sống, chấp hành tốt pháp luật, gia đình văn hóa, gắn bó với cộng đồng, nhà trường và nơi ở.
          Ví dụ 2:  Khi dạy bài 13: “ Phòng, chống tệ nạn xã hội” ( GDCD 8) giáo viên cần nghiên cứu và tìm hiểu những tài liệu sau:
     -  Luật Phòng, chống ma tuý năm 2000.
     -  Bộ luật hình sự năm 1999.
     - Tranh ảnh, băng hình về tác hại của tệ nạn xã hội và hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội.
          Để bài giảng của mình thêm hay, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, để có những số liệu thống kê, tranh ảnh minh hoạ cho bài giảng tôi đã tìm hiểu tình hình thực tế ở địa phương, tìm đọc báo chí, đọc và tìm hiểu những qui định của pháp luật về phòng ngừa tệ nạn xã hội, tìm đọc các tư liệu trên mạng Internet…Qua đọc những tài liệu đó, tôi đã có những số liệu cụ thể nhất, sống động nhất để minh hoạ cho bài giảng. Thông qua những số liệu, hình ảnh đó học sinh trực tiếp hiểu rõ tính chất nguy hiểm của tệ nạn xã hội, từ đó các em cũng thấy rõ các biện pháp phòng chống của nhà nước và địa phương, liên hệ được trách nhiệm của bản thân.
3.5.4. Chọn kỹ thuật, đồ dùng dạy học phù hợp để sử dụng cho từng hoạt động khác nhau :
          Cùng với việc lựa chọn, tìm hiểu các phương tiện, đồ dùng trực quan người giáo viên cần tìm ra cách thức sử dụng kỹ thuật đồ dùng trực quan cho phù hợp và đem lại hiệu quả cao.Vì sử dụng tuỳ tiện, không đúng mục đích sẽ không đem lại kết quả mà còn ảnh hưởng không tốt đến chất lượng, hiệu quả dạy và học. Tùy từng đặc điểm của hoạt động mà giáo viên có lựa chọn kỹ thuật, đồ dùng, phương tiện cho phù hợp.
Hoạt động giới thiệu bài :
          Đối với hoạt động này, nếu chỉ đàm thoại hay thuyết trình thì hiệu quả sẽ không cao, không lôi cuốn được học sinh. Thông thường đối với hoạt động này chỉ cần một hoạt cảnh sắm vai tình huống nhỏ, một đoạn Video Clip phóng sự, sẽ giúp cho giáo viên có lối vào bài hiệu quả, lớp học sinh động.
          Ví dụ 1 : Khi dạy bài 15 Phòng ngừa tai nạn, vũ khí, cháy nổ và các chất độc hại” (GDCD 8) giáo viên có thể cho học sinh xem một đoạn phim ngắn về tai nạn do cháy, nổ gây nên.
          GV : Đoạn phim tư liệu trên đề cấp đến vấn đề gì ?
          HS : Tai nạn do cháy nổ.
          GV : Đúng những hình ảnh trên đã đề cập đến tình hình tai nạn cháy nổ ở nước ta trong thời gian qua và hiện nay đã gây những thiệt hại vô cùng to lớn về người và của cho đất nước, để lại những hậu quả nặng nề cho toàn xã hội. Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa nhưng tai nạn do cháy nổ và các chất độc hại luôn rình rập tất cả mọi người. Vậy chúng ta làm gì để góp phần hạn chế những tai nạn do cháy nổ và các chất độc hại gây nên, chúng ta cùng tìm hiểu bài 15.
          Ví dụ 2 : Khi dạy bài 19: “ Quyền tự do ngôn luận”(GDCD 8), giáo viên có thể giới thiệu bài mới bằng cách Sử dụng phim đèn chiếu hoặc máy chiếu đa năng chiếu các hình ảnh sau:
-  Nhân dân đóng góp ý kiến vào bản dự thảo Luật, dự thảo Hiến pháp.
            -  Học sinh lớp 9a đang họp bàn các biện pháp nâng cao chất lương học nhóm.
            -  Một cuộc họp tiếp xúc cử tri của HĐND xã.
            -  Đại biểu Quốc hội thảo luận tại hội trường.
Rồi đặt câu hỏi:
              - Quan sát các ví dụ trên và cho biét những công  dân trên đây đang thực hiện quyền gì?
( Quyền tự do ngôn luận ).
          Vậy thế nào là tự do ngôn luận? Công dân cần sử dụng quyền tự do ngôn luận
như thế nào? Chúng ta cùng nghiên cứu, tìm hiểu bài học hôm nay: Bài 10 : Quyền tự do ngôn luận.
Tìm hiểu khái niệm, nội dung kiến thức cơ bản :
          Với hoạt động này, tôi thường sử dụng các phương tiện trực quan như: Máy chiếu, băng hình, tranh ảnh kết hợp với phương nêu vấn đề bằng cách đặt câu hỏi để kích thích hoạt động tư duy của học sinh, hướng các em vào những vấn đề, kiến thức cơ bản trong bài cần phải tìm hiểu.
          Giáo viên có thể sử dụng đồ dùng trực quan như băng hình, số liệu, bản đồ, bảng thống kê…yêu cầu học sinh theo dõi, quan sát, thảo luận nhằm phát hiện và rút ra những nội dung kiến thức cơ bản, trọng tâm. Lúc này giáo viên chỉ là người gợi ý, hướng dẫn chứ nhất thiết không phải trình bày khi học sinh có thể tự làm được.
          Ví dụ 1 : Khi giảng bài 13: “Phòng chống tệ nạn xã hội” (GDCD8), để giúp học sinh hiểu được tác hại của tệ nạn xã hội, giáo viên sử dụng băng hình về các tệ nạn xã hội và bảng thống kê tình hình nhiễm HIV/AIDS năm 2010 như sau: 
Khu vực Số  người nhiễm HIV Số người chết vì AIDS
Thế giới Hơn 40 triệu người 18,3 triệu người
Việt Nam 138. 191 người 41.544 người
Đà Nẵng 1308 người 247 người
          Được trực tiếp nhìn thấy những hình ảnh: Nhà cửa tan hoang, ruộng vườn, đồ đạc bị bán vì cờ bạc, nghiện hút; cảnh vật vã quằn quại khi lên cơn nghiện, thân hình gầy còm ốm yếu chết dần, chết mòn vì AIDS… các em sẽ thấy rõ nguy hiểm của các tệ nạn xã hội đối với mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội.
          Sau đó giáo viên có thể đặt câu hỏi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm với các câu hỏi sau:
          - Tệ nạn xã hội đã gây nên hậu quả như thế nào đối với bản thân mỗi người?
          - Tệ đánh bạc, ma tuý, mại dâm  gây tác hại ra sao đối với gia đình?
          - Các tệ nạn xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến xã hội?
Hướng dẫn học sinh liên hệ tình hình địa phương, nơi các em ở, trong gia đình mình, giáo viên kết hợp giáo dục
          Ví dụ 2: Khi dạy Tiết ngoại khóa “ An toàn giao thông”
          Để tìm hiểu nội dung kiến thức: Vấn đề giao thông ở Việt Nam hiện nay, tôi sử dụng băng hình giới thiệu phóng sự vềTình hình trật tự an toàn giao thông”.
 Hỏi: Quan sát đoạn phim trên em có nhận xét gì về tình hình TTATGT ở nước ta hiện nay?
          Được trực tiếp nhìn thấy những hình ảnh: tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông trên đoạn đường dài mấy km; hiện tượng phóng nhanh, vượt ẩu, lạng lách, đánh võng trên đường, đèo 3, 4 người trên một xe máy… các em sẽ dễ dàng nhận thấy: Tình hình TTATGT ở nước ta hiện nay diễn biến rất phức tạp:
 Khẳng định:
          - Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông: phóng nhanh, vượt ẩu, điều khiển phương tiện khi uống rượu bia, không chấp hành các quy định về an toàn giao GT.
          -  TNGT tăng hàng năm và có diễn biến phức tạp, gây thiệt hại to lớn về người và tài sản.
- Ùn tắc giao thông nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế, xã hội và ô nhiễm môi trường.
          - Hiện tượng vi phạm TTATGT rất phổ biến trong đó có rất nhiều thanh niên học sinh chúng ta.
images1426055_20070317BCER2933 vtc_183099_2
           Ùn tắc giao thông                                                Lạng lách, đánh võng
91374-medium_vn_270209_tngt 1(16)
                  Tai nạn giao thông                                            Chuyên chở cồng kềnh
Hoạt động củng cố, giáo dục cuối bài:
          Ví dụ 1 : Khi giảng bài 9: Góp phần xây dựng nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư” (GDCD 8), để giúp học sinh khắc sâu kiến thức giáo viên có thể cho học sinh chơi trò chơi ô chữ thông qua từng từ hàng ngang và từ chìa khóa, giáo viên kết hợp khắc sâu kiến thức của bài và giáo dục các em ý thức góp phần xây dựng nếp sống văn hóa ở khu dân cư từ chính gia đình mình đến trường, lớp, vân động mọi người xung quanh bảo vệ môi trường, không sa vào tệ nạn mê tín dị đoan…

          Ví dụ 2 : Khi dạy bài 13 Phòng chống tệ nạn xã hội” (GDCD 8), giáo viên có thể giới tranh và thiệu sơ đồ:
090402202559-564-757 pl,-ma-tuy 080914033440-371-848
Tệ nạn xã hội
                                                

          - Hãy giải thích sơ đồ và bức tranh trên? Qua đó em rút ra kết luận chung gì về các tệ nạn xã hội?
Qua quan sát sơ đồ và bức tranh, dựa vào kiến thức cô giáo vừa giảng các em sẽ giải thích và rút ra được nhận xét chung là:
- Các tệ nạn xã hội ( cờ bạc, ma tuý, mại dâm ) có mối liên hệ mật thiết với nhau.
-  Nó vô cùng nguy hiểm đối với mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội.
Giúp học sinh rút ra được trách nhiệm của bản thân:
- Sống giản dị, lành mạnh, biết giữ mình và giúp nhau không sa vào tệ nạn xã hội.
- Tuân theo những qui định của pháp luật.
- Tích cực tham gia các hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội trong nhà trường và địa phương.
Như vậy trong tất cả các tiết dạy đạo đức, pháp luật tiết nào cần sử dụng đồ dùng trực quan, tôi đều tiến hành sưu tầm tư liệu, tranh ảnh, tìm đọc các tài liệu có liên quan, tìm hiểu tình hình thực tế địa phương để lựa chọn và đưa ra những hình ảnh, số liệu… đắt nhất, điển hình nhất, mới nhất và có sức thuyết phục nhất vào trong bài giảng, làm cho bài giảng không bị khô khan, tẻ nhạt mà hiệu quả giờ dạy lại cao.
Chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏi phù hợp với đồ dùng dạy học :
Nhằm khai thác hết nội dung của các kỷ thuật và đồ dùng dạy học, tránh tình trạng sử dụng tùy hứng, thiếu chuẩn bị sẽ làm hạn chế hiệu quả của đồ dùng dạy học. Nếu chỉ đưa những tranh ảnh,bản đồ, số liệu để học sinh xem chứ không yêu cầu các em  quan sát tìm hiểu, suy nghĩ, nhận xét, đánh giá và rút ra kết luận thì kho phát huy được vai trò của nó. Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy có rất nhiều tình huống nảy sinh,  lúc đó đòi hỏi người giáo viên phải giải quyết tình huống thật khéo léo thì tiết dạy sẽ đạt kết quả tốt.
          Ví dụ  : Khi giảng bài 7: “Tích cực tham gia các hoạt động chính trị xã hội” (GDCD 8) giáo viên có thể cho hoc sinh quan sát hình ảnh:
 
ImageView 1213509697
             Bảo vệ môi trường                                                         Hiến máu nhân đạo
1 %5Cnews_52417images1248533_qh1
             Bảo vệ dân phố                                                                 Họp Quốc hội
25 avatar[1]
                     Sản xuất                                                                          Đền ơn, đáp nghĩa
Yêu cầu HS quan sát các hình ảnh trên và cho biết:
  • Nêu tên các hoạt động của các nhân vật trong ảnh?  
  • Những hoạt động đó nhằm mục đích gì?
  • Những hoạt động trên có ý nghĩa , tác dụng gì?
  • Những hoạt động đó do ai tổ chức?
  • Em hiểu thế nào là hoạt động chính trị – xã hội?
  • Có mấy loại hình hoạt động chính trị – xã hội?
           Bằng hệ thống câu hỏi ấy, học sinh thảo luận rất sôi nổi và hào hứng. Qua quan sát tranh, ảnh các em chăc chắn sẽ có câu trả lời tốt, hiểu sâu sắc bài học hơn.
4.  Kết quả thực hiện:
BẢNG TỔNG HỢP SỐ LƯỢNG HỌC SINH CÓ Ý THỨC HỌC TẬP BỘ MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THCS NGUYỄN BÁ PHÁT NĂM HỌC 2011 - 2012
 TỔNG SỐ 191/87 NỮ
GIAI
ĐOẠN
CÓ Ý THỨC HỌC TẬP TỐT CÓ Ý THỨC HỌC TẬP CHƯA CÓ Ý THỨC HỌC TẬP GHI CHÚ
SL TL SL TL SL TL
GĐ I 42 21.98 % 98 51.30% 51 26.72 %  
GĐ II 53 27.74 % 115 60.20% 23 12.06 %  
GĐ III 86 45.03% 99 51.83% 6 3.14%  

Biểu đồ so sánh tỉ lệ học sinh có ý thức học tập bộ môn GDCD theo các giai đoạn
                  Text Box: Qua biểu đồ tôi nhận thấy việc sử dụng đồ dùng các kỷ thuật dạy học trong các tiết dạy đã đem lại kết quả tốt đẹp trong dạy và học đặc biệt là dạy những bài pháp luật. Học sinh rất say mê hứng thú khi tìm hiểu pháp luật. Các em hiểu bài nhanh và nắm bài vững. Số học sinh hiểu và nắm được bài ngay tại lớp khoảng ngày càng tốt hơn. Các em yêu thích và say mê bộ môn hơn, số học sinh giỏi và khá ngày càng tăng, số học sinh yếu cũng giảm dần. Vai trò của bộ môn vì thế cũng được tăng lên.PHẦN III:  KẾT LUẬN
  1. Những bài học kinh nghiệm:
Qua thời gian dài giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp ở trường và các trường bạn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bản thân tôi đã rút ra những kinh nghiệm để có thể sử dụng tốt các kỹ thuật dạy học  và mang lại hiệu quả cao là:
Một là: Sử dụng kỹ thuật , phương tiện dạy học phải đúng lúc, đúng chỗ, kịp thời tránh đưa ra một cách tuỳ tiện.
Hai là: Khi sử dụng các kỹ thuật giáo viên phải suy nghĩ, tìm tòi đảm bảo vừa phù hợp với lứa tuổi học sinh nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu sách giáo khoa, tránh đưa những tư liệu hình ảnh phản cảm, thiếu tính giáo dục.
Ba là: Phải hiểu và biết tường tận những chi tiết cần thiết trong mỗi kỹ thuật và đồ dùng trực quan để phát huy hết tác dụng của những đồ dùng, phương tiện trực quan đó.
Bốn là: Phải xem các kỹ thuật dạy học và đồ dùng phương tiện trực quan như một loại hình kiến thức riêng biệt cần được nghiên cứu, khai thác, sử dụng chứ không phải là phương tiện trực quan minh hoạ đơn thuần. Trên cơ sở làm việc với nguồn thông tin từ các phương tiện dạy học giáo viên cung cấp cho học sinh những chất liệu cần thiết  để các em tìm tòi, tự kiến tạo tri thức, kĩ năng nhận xét, đánh giá về nội dung, tính chất sự việc, rút ra kết luận, bài học cần thiết.
Năm là: Không được lạm dụng các kỹ thuật, phương tiện, đồ dùng trực quan. Cần chọn những kỹ thuật đồ dùng phù hợp, “đắt nhất” khai thác hiệu quả của nó, tránh tình trạng học sinh mãi mê xem ảnh, xem phim mà quên mất nhiệm vụ của mình. Việc sử dụng  đồ dùng trực quan phải được kết hợp hài hoà với các phương pháp khác như thuyết trình, đàm thoại, nêu vấn đề bằng cách đặt câu hỏi, giải thích, phân tích và so sánh… có như vậy hiệu quả sử dụng đò dùng, phương tiện dạy học mới đạt hiệu quả cao.
Sáu là: Muốn sử dụng tốt và có được những kỹ thuật và đồ dùng trực quan có giá trị về thẩm mĩ, nội dung, mang tính giáo dục cao, người giáo viên cần phải thường xuyên đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, tìm hiểu những thông tin trên mạng Internet, tìm hiểu tình hình địa phương để nắm bắt kịp thời những tin tức thời sự mới nhất, chính xác nhất để đưa vào bài giảng hợp lí nhất và hay nhất. Bên cạnh những điều đạt được bản thân cũng gặp phải một số khó khăn:
     Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, các thiết bị phục vụ cho giảng dạy còn hạn chế như máy tính, máy chiếu, phòng chức năng…
 Việc chuẩn bị tốt cho một tiết dạy có sử dụng các kỷ thuật và đồ dùng dạy học một  cách hiệu quả người giáo viên phải hao tốn rất nhiều thời gian, công sức, có khi cả tiền bạc .
  Kỹ năng sử dụng, nhận xét, đánh giá, rút ra bài học từ kỹ thuật và đồ dùng dạy học của học sinh còn yếu.
  Số lượng giáo viên môn GDCD trong các nhà trường hạn chế nên việc học tập rút kinh nghiệm lẫn nhau còn nhiều khó khăn.Đồ dùng dạy học và thiết bị hiện đại còn mới mẻ đối với nhiều giáo viên.
2. Những kiến nghị , đề xuất – hướng phổ biến áp dụng đề tài:
Để đảm bảo cho việc dạy và học môn GDCD đạt hiệu quả cao, tôi xin có một số kiến  như sau:
Cần quan tâm hơn nữa đến việc đầu tư các phương tiện dạy học hiện đại, các văn bản pháp luật, các tài liệu tham khảo có liên quan đến bộ môn  để giáo viên có thêm tư liệu sử dụng khi lên lớp.
Có hướng dẫn thống nhất và cụ thể cho những tiết thực hành ngoại khóa để giáo viên tiến hành dạy các tiết đó được thuận lợi hơn và đạt hiệu quả tốt hơn.
 Những vấn đề trình bày trong đề tài này chỉ  theo tính chất chủ quan. Trong thực tế giảng dạy tùy theo mục tiêu cụ thể của từng bài, vào năng lực, trình độ học sinh , điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà giáo viên có sự lựa chọn kỷ thuật và đồ dùng dạy học tương ứng. Vì vậy khi thực hiện khó tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo,trao đổi kinh nghiệm của các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn , có hiệu quả cao hơn khi áp dụng vào thực tế giảng dạy ở các bộ môn thuộc lĩnh vực khoa học xã hội ..
 
                                                                             Người viết
 
 
                                                                           Lưu Thị Hợp
                                                       
                                                                          
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
  1. Sách giáo viên GDCD 6,7,8,9. NXB Giáo Dục – Hà Nhật Thăng
  2. Tài liệu BDTX Giáo viên THCS chu kỳ III (2004 – 2007) - Nhiều tác giả - NXB Giáo Dục - Quyển I, II.
  3. Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD 6,7,8,9 – Lưu Thị Thuỷ - NXB Giáo Dục.
  4. Những vấn đề chung về đổi mới Giáo Dục THCS môn GDCD. NXB Giáo dục – 2007. Nguyễn Hải Châu.
  5. Sách Giáo khoa môn GDCD 6,7,8,9 – NXB Giáo dục - Nhiều tác giả.
  6. Bài tập tình huống GDCD 6,7,8,9. NXB Giáo dục nhiều tác giả.
  7. Tài liệu  GDCD THCS - Đặng Thuý Anh -  NXB Giáo Dục – 2008.
  8. Tài liệu thống kê về ô nhiễm môi trường năm 2008 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường Việt Nam – NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.
  9. Các thông tin sự kiện trên báo Tây Ninh, báo khoa học và đời sống - số ra hàng ngày.
  10. Trang Web: www.cac ky thuat day hoc hien dai.com.vn
  11. Tư liệu về địa lý và lịch sử Đà Nẵng – 2005 - Nhiều tác giả.
  12. Thống kê tình hình TNGT ở Đằ Nẵng: Ban an toàn giao thông  tỉnh Đà Nẵng.
  13. Khai thác và sử dụng kênh hình trong môn GDCD – NXB Giáo dục – 2010.
  14. Sử dụng lược đồ tư duy trong dạy học ở trường phổ thông – Hoàng Quốc Huy – NXB Giáo dục.
  15. Những hình ảnh về chiến tranh : Phần mềm dạy học GDCD tại các trường THCS – NXB Giáo dục 2011.
 
 
 

Tác giả bài viết: Lưu thij Hợp

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Thi Toán trên mạng