23:00 ICT Thứ sáu, 24/10/2014

Trang nhất » Góc GV và HS » Sáng kiến kinh nghiệm

SKKN – Đổi mới phương pháp dạy học để gây hứng thú học tập cho học sinh

Thứ tư - 16/01/2013 10:46
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
       Xuất phát từ mục tiêu chung “Nâng cao tính chủ động, phát huy tính tích cực, tư duy của học sinh”. Môn Mỹ Thuật ở trường THCS góp phần thực hiện mục tiêu trên đó là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ , thể chất, thẩm mỹ và kỹ năng cơ bản để hình thành nhân cách con người, hiểu được cuộc sống và luôn biết vươn đến cái: Chân - Thiện - Mỹ.
        Phần lớn, tầng lớp trí thức là tất cả mọi đối tượng, mọi tầng lớp trong xã hội. Mỗi lứa tuổi lại có những cách cảm nhận, suy nghĩ và lí giải về cái đẹp khác nhau. Người lớn có cách cảm nhận logic, còn trẻ em thì có cái nhìn vô tư, trong sáng. Chúng ta biết rằng: Mỹ Thuật là một trong những môn học đặc thù, giữ vai trò quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ ở trường phổ thông hiện nay. Đó là môn học về cái đẹp, khơi dậy tư duy sáng tạo trong tâm hồn trong sáng, thơ ngây và đáng yêu của lứa tuổi thiếu nhi. Dạy nghệ thuật nói chung và dạy Mỹ Thuật nói riêng, không phải là đưa ra một công thức cứng nhắc để làm, để vẽ mà điều cốt lỏi quan  trọng là lối tư duy, tạo điều kiện cho sự phát triển tưởng tượng, khả năng sáng tạo của trẻ em.
       Nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, cho nên việc nhìn nhận và thưởng thức cái đẹp của đại bộ phận nhân dân là vấn đề tất yếu khách quan, không chỉ là đối với người sáng, nhìn sự vật qua lăng kính màu hồng, không vướng  những nguyên tắc, trăn trở mà tập trung tình cảm, sự yêu thích của mình vào  mỗi bài vẽ.
       Đồng thời, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của giáo dục, đặc biệt là chất lượng của nó, cùng với sự phát triển ngày càng cao của con người về đức dục, trí dục, thể dục thì mỹ dục cũng không ngừng phát triển và dần có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi con người và nhất là thế hệ trẻ.
       Dạy – học Mĩ Thuật ở trường THCS không phải nhằm đào tạo họa sĩ hay người làm nghệ thuật mà nhằm giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho các em. Chủ yếu tạo điều kiện cho các em tiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp, vận dụng cái đẹp vào trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng học sinh muốn có những cảm nhận, những cái nhìn đúng không lệch lạc thì cần truyền đạt vốn kiến thức bổ ích.
Đối với môn học Mĩ Thuật việc truyền thụ kiến thức là một công việc quan trọng.
Qua đây, học sinh hình thành kỹ năng cảm thụ thẩm mĩ và kỹ năng thực hành.     
           Mặt khác, hiện nay phương pháp dạy học truyền thống “ đọc chép” thụ động không đáp ứng được lối tư duy sáng tạo, năng động và tích cực của học sinh. Có một câu nói rằng: “Dù đã dắt ngựa đến bờ sông cũng không thể bắt nó uống nước được”. Vấn đề học tập của trẻ cũng vậy. Dù có bắt được chúng ngồi ngay ngắn học tập nhưng nếu không thích thú, trẻ không thể học tốt được. Chính vì vậy ngoài việc truyền đạt kiến thức cho học sinh của người thầy,  chúng tôi nghĩ rằng mình cần phải biết gây hứng thú học tập cho học sinh để tiết học thực sự nhẹ nhàng, sinh động. Học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, không gượng ép.
      Vậy làm sao để học sinh thêm hứng thú học tập bộ môn này nên tôi đã nghiên cứu và làm đề tài: “ Đổi mới  phương pháp dạy học để gây hứng thú học tập cho học sinh”.
    II. Thực trạng:
        Trong thực tế giảng dạy cho thấy tình trạng học sinh tiếp thu kiến thức còn thụ động.
       - Thiếu sự nhiệt tình, tích cực trong các hoạt động
       - Một vài học sinh  có biểu hiện ỷ lại vào các bạn trong nhóm. Chưa mạnh dạn bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân.
       - Hoạt động trò chơi chưa đưa vào nhiều trong các hoạt động giảng dạy.
       - GV còn dạy theo lối mòn.
     III. Đối tượng nghiên cứu:
    - Đối tượng giảng dạy của chúng ta chính là học sinh THCS. Đây là lứa tuổi học sinh chuyển tiếp từ giai đoạn vui chơi sang giai đoạn học tập, khả năng tri giác của các em rất tốt, hứng thú ngày càng bộc lộ và phát triển rõ rệt. Đặc biệt là hứng thú nhận thức, hứng thú tìm hiểu thế giới xung quanh, các em thể hiện tính tò mò,  ham hiểu biết. Tuy nhiên sự phát triển hứng thú học tập của học sinh phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức học tập cho học sinh của giáo viên.
      IV.Phương pháp nghiên cứu
            + Phương pháp phân tích.
            + Phương pháp điều tra.
            +  Phương pháp quan sát.
            +  Phương pháp đặt vấn đề và giao nhiệm vụ.
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.  CÁC CƠ SỞ LÀM ĐỀ TÀI
     1.1.Cơ sở lí luận:
     Thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, thực hiện các công văn chỉ đạo của ngành là phát huy tính tích cực học tập của học sinh để lĩnh hội kiến thức đầy đủ và có hệ thống.
      Thực hiện cuộc vận động hai không với 4 nội dung và các quyết định, nghị quyết của ngành cũng như của Đảng, Nhà Nước.
     1.2.Cơ sở thực tiễn:
       Những quan niệm của mình về cách gây hứng thú của học sinh toàn diện hơn đã đưa ra các khái niệm quan hệ giữa sự hứng thú học môn Mĩ Thuật với sự phát triển nhân cách và sự tích cực học tập của học sinh.
       Những năm gần đây hứng thú học tập đã được như là một động cơ có ý nghĩa hoạt động của học sinh, chính việc nghiên cứu này làm sáng tỏa thêm sự hứng thú của học sinh tự học nó cũng một là thuộc tính của nhân cách.
       Ở trường THCS trong những năm gần đây một số giáo viên đã có nhiều sáng kiến kinh nghiệm viết về nhiều chủ đề khác nhau, nhưng chưa đi sâu vào việc tìm hiểu học sinh có hứng thú học ở bộ môn mình giảng dạy và cũng chính vì điều này mà tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm là tìm ra một số biện pháp gây hứng thú học sinh học môn Mĩ Thuật.
          Thực tế tuy môn Mỹ Thuật ra đời sớm nhưng mới đưa vào áp dụng, mà học sinh đa số là con em của người dân sống ở vùng nông thôn miền núi, kinh tế còn thiếu thốn khó khăn, đồ dùng học tập chưa đầy đủ và một số gia đình không quan tâm đến việc học tập của con cái nên kết quả chưa cao. Một trong những nguyên nhân làm cho học sinh học môn Mĩ Thuật chưa tốt là do phương pháp dạy của giáo viên. Trên thực tế giáo viên nào biết cách hướng dẫn học sinh quan sát thu thập chất liệu, biết phát huy tính sáng tạo khuyến khích học sinh vẽ đẹp thì bài vẽ trở nên có cảm xúc. Ngược lại giáo viên nào hướng dẫn  học sinh học tập, bắt buộc học sinh làm theo khuôn mẫu của mình không đúng với cảm xúc  chính các em, các em sẽ thiếu tư duy sáng tạo vào trong cách vẽ, bài vẽ sẽ trở nên khô khan, đơn điệu.
  II. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
          2.1: Thuận lợi
          + Quan điểm nhận thức về môn Mĩ Thuật :
          - Môn Mĩ Thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh,.
          - Cho đến nay các trường đã có giáo viên dạy Mĩ Thuật, phong trào học Mĩ Thuật ngày càng một sôi nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn học và môn học đã được chú ý. Tất cả mọi người đã hiểu được đây là một môn học nghệ thuật. Vì vậy không ít giáo viên và học sinh, các bậc phụ huynh luôn coi trọng và đầu tư cho môn học. Qua đó các em thấy rằng Mĩ thuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cao và là môn học bổ trợ tích cực cho các môn học khác. Vì thế các em đón nhận tiết học một cách nhiệt tình và hào hứng.
          + Trang thiết bị dạy học :
          - Để giảng dạy môn mĩ thuật trong chương trình đào tạo được thành công, điều này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như : tài liệu, phương tiện, đồ dùng trực quan, ...
      - Có một số đồ dùng cần thiết cho việc giảng dạy Mĩ Thuật cho học sinh như: bộ đồ dùng dạy học các phân môn từ lớp 6 đến lớp 9 sách tham khảo, một số tranh ảnh về tượng, phù điêu, ...
          + Cơ sở vật chất :
             Nhà trường quan tâm đầu tư công nghệ thông tin cho dạy học. Vì thế góp phần thuận tiện cho việc dạy và học của giáo viên, học sinh. Học sinh lúc nào cũng có đủ đồ dùng, không bị quên ở nhà.
          2.2 . Khó khăn
          + Về nhận thức :
          - Bên cạnh những thuận lợi như trên thì dạy và học môm Mĩ Thuật vẫn còn gặp phải một số khó khăn :
          - Do quan niệm của một số giáo viên, một số bậc phụ huynh ,sự thiếu quan tâm mua sắm đồ dùng học tập cho học sinh, ... Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập của giáo viên và học sinh gây cho học sinh cảm giác chán nản, không tự tin làm bài. Trên thực tế điều tra tôi còn thấy có giáo viên giảng dạy bộ môn về phương pháp sư phạm còn hạn chế, lời nói còn chưa hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, trình bày bảng còn vụng về, lúng túng,... dẫn đến học sinh không lắng nghe, không tập trung tìm hiểu bài còn mơ hồ, không nắm được mục tiêu của bài học. Điều đó khiến cho các em không thích thú với bài học, thể hiện tác phẩm của mình qua loa, đại khái, vì thế không thấy được cái hay, cái đẹp và vận dụng vào cuộc sống hàng ngày.
           + Trang thiết bị dạy học :
           - Bên cạnh đó còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì thực tế đời sống dân trí còn nghèo, hầu hết là con em thuần nông nên điều kiện để phụ huynh tập trung đầu tư cho học tập của các em còn hạn chế, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần học tập của các em.
           - Ngoài ra điều kiện nhà trường còn thiếu thốn như : phòng học chức năng, vật mẫu cho giáo viên và học sinh, phương tiện, đồ dùng trực quan, ... vì thế ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập và giảng dạy của giáo viên và học sinh.
.     Vì vậy, là một giáo viên luôn tâm huyết với nghề tôi luôn trăn trở làm như thế nào để nâng cao chất lượng, đó chính là lý do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu.  
    III: BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
    3.1. Cơ sở xuất phát các giải pháp:
   - Xuất phát từ mục tiêu giáo dục.
   - Xuất phát từ lí luận dạy học: nhằm gây sự hứng thú của học sinh đối với môn học Mĩ thuật của từng học sinh.
    - Xuất phát từ tình hình học tập của học sinh trường THCS Nguyễn Bá Phát.
     3.2.Các giải pháp chủ yếu:
    - Trong những năm gần đây, giáo viên bộ môn Mĩ Thuật ở trường THCS đã đủ  vì thế việc hứng thú tự học, bài học là một việc rất cần thiết trong giờ học Mĩ Thuật.
      Nếu giáo viên gây hứng thú cho học sinh tốt thì sẽ gây cho học sinh đam mê học tập của mình. Vì việc hứng thú nó đem đến tình huống có vấn đề, sau đó học sinh sẽ quan tâm đến những vấn đề đó để giải quyết trong suốt quá trình của tiết học, nên việc gây hứng  thú tự cho học sinh học  Mĩ Thuật sẽ được nâng cao.
      Nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Buruna nói : Sự kích thích tốt nhất đối với học tập là hứng thú đối với tài liệu học tập”.
      Trong học tập hay bất kì công việc gì thì hứng thú là một thái độ rất quan trọng, nó thúc đẩy tiến trình công việc hiệu quả hơn, năng suất và nhẹ nhàng hơn.
      Đã là hứng thú , nghĩa là hứng khởi và thích thú đối với môn học. Sự thích thú đó có thể do hình thức “sướng tai vui mắt” hay những ý nghĩa thi vị của nó trong đời sống. Những xúc cảm, thái độ chỉ có thể hình thành dưới sự dẫn dắt của người thầy mà kết quả của nó là hệ quả của rất nhiều yếu tố như: cách tổ chức tiến hành bài giảng, hình thức hoạt động, công cụ trực quan, phương tiện dạy học, giọng nói và cả khả năng khuấy động lớp học như một MC của giáo viên…
      Tuy nhiên để có thể thực hiên, áp dụng nó vào bài dạy cụ thể thì trước hết chúng ta phải hiểu được con đường để hình thành nên sự hứng thú. Thứ nhất đó là sự hấp dẫn một cách tự phát không vì bất cứ lí do gì, trường hợp này trong quá trình giảng dạy Mỹ Thuật chúng ta có bắt gặp nhưng không nhiều, có lẽ là vì ngôn ngữ của Mỹ Thuật khá trừu tượng. Thứ hai đó là sự hấp dẫn về hình thức khiến người ta say mê khám phá dẫn đến nhận thức về bản chất của sự vật, cái này chúng ta thấy nhiều ở sinh viên các trường chuyên nghiệp. Thứ ba là từ chỗ hiểu được ý nghĩa của đối tượng mà dẫn đến bị hấp dẫn lôi cuốn , đây là trường hợp mà chúng ta bắt gặp nhiều nhất trong quá trình giảng dạy.
       Song nói gì thì nói kĩ thuật và phương pháp giảng dạy mới đặc biệt quan trọng. Trước đây , khi còn là sinh viên trong quá trình thực tập , chứng kiến một số bài dạy của giáo viên và sinh viên, mặc dù có sự chuẩn bị khá đầy đủ nhưng hiệu quả thì chưa phải là tốt nhất. Lí do là bởi các bạn không tìm cho mình một phương pháp riêng để lý giải một vấn đề mà hầu hết tất cả đều na ná giống nhau, một bài trình chiếu PowerPoint đẹp không có nghĩa là nó hiệu quả và gây được hứng thú khi mà các bạn cứ liền tù tì một mạch từ slide này sang slide khác và kết thúc bằng việc đưa giấy ra thực hành. Bởi với tôi mục đích của trình chiếu là để hỗ trợ người giáo viên làm sáng tỏ vấn đề để đưa đến một kết luận nào đấy, có những lúc các bạn phải dừng lại kết hợp với bảng để lí giải nó, mô phỏng nó. Cũng như không phải các bạn cứ đưa một số bức tranh ra với một loạt câu hỏi đại loại như: các bức tranh vẽ đề tài gì? Màu sắc ra sao? Bố cục như thế nào?…và rồi đưa ra kết luận về đặc điểm của một trường phái nghệ thuật nào đó. Có rất nhiều cách thức để chúng ta thực hiện , một câu hỏi mang tính cách gợi mở của giáo viên thực tế sẽ khuấy động được tư duy của học sinh và không khí của lớp học. Nói gợi mở nghĩa là nó sẽ mở ra nhiều câu trả lời ,nhiều ý kiến khác nhau, định hướng và sắp xếp lại đó là công việc của người giáo viên.
     Ví dụ 1: Dạy tiết 23 vẽ tranh đề tài “Ngày tết và mùa xuân”
      - Giáo viên phải dẫn dắt vào bài mới ngay từ đầu tiết cũng làm tăng tính hứng thú trong học tập của học sinh trong giờ học. Nếu dẫn dắt tốt thì sẽ gây hứng thú học tập của học sinh, có thể cho học sinh hát một bài về ngày tết và mùa xuân hoặc cho học sinh xem một đoạn clip về không khí ngày tết và mùa xuân…Vì  việc dẫn dắt vào bài nó đem đến tình huống có vấn đề sau đó học sinh quan tâm đến những vấn đề đó để giải quyết trong suốt quá trình của tiết học cũng như nhớ bài được lâu và được khắc sâu một cách có khoa học.
      - Việc sử dụng đồ dùng dạy học một cách có hiệu quả cũng làm tăng hứng thú của học sinh trong tiết học, đồ dùng phải đẹp, dễ nhìn, phù hợp với nội dung bài học và tình hình địa phương. Đồ dùng có thể là tranh ảnh về đề tài hoặc được trình chiếu trên máy chiếu đa năng để học sinh cảm nhận. Sau khi giới thiệu bài xong giáo viên cho học sinh quan sát tranh về đề tài khác nhau và cho học sinh tìm ra đề tài về ngày tết và mùa xuân thông qua hình thức thi đua giữa các nhóm với nhau.
        - Khi học sinh nhận biết tranh đúng đề  tài giáo viên cho học sinh  hoạt động theo nhóm để học sinh nhận biết về nội dung cần vẽ, hình ảnh, màu sắc… Hoạt động nhóm trong giờ học để phù hợp với từng đối tượng học sinh ta có thể phân nhóm theo nhiều cách khác nhau, mỗi nhóm làm một nhiệm vụ phù hợp với năng lực của mình. Ví dụ: Những học sinh nào có hứng thú học tập cao thì cho nhóm ấy có nhiệm vụ tìm tòi, đòi hỏi độc lập, sáng tạo. Nhóm nào yếu thì có nhiệm vụ làm mẫu … hoặc căn cứ vào trình độ nhận thức ,trình độ học lực có thực của học sinh mà chung ta phân nhóm nhằm giúp học sinh tích cực học tập . Dựa vào học lực để giáo viên phân cho học sinh nhưng nhiệm vụ tương ứng . Tất cả những điều đó cũng gây được hứng thú của học sinh.
        - Tổ chức  trò chơi để gây hứng thú cho học sinh  bằng cách cho học sinh tìm ra những hình ảnh cần vẽ về đề tài ngày tết và mùa xuân nhóm nào tìm được nhiều sẽ có phần thưởng. Trò chơi học tập là hình thức học tập thông qua trò chơi. Trò chơi học tập không chỉ nhằm vui chơi giải trí mà còn góp phần củng cố tri thức, kỹ năng học tập cho học sinh. Việc sử dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học nhằm làm cho việc hình thành kiến thức và rèn luyện kỹ năng của học sinh bớt đi vẻ khô khan, tăng thêm phần sinh động hấp dẫn.
       - Thực hành cũng cần tạo cho học sinh không khí thoải mái không gò ép học sinh theo khuôn mẫu, các em có thể thoải mái thể hiện ý tưởng của mình.
          Ví dụ 2: Ñeå daïy baøi “Taïo daùng vaø trang trí thời trang, lôùp 9 ñoái vôùi phaân moân veõ trang trí thì ta coù theå töï laøm moät boä tranh veõ caùc maãu thời trang khaùc nhau, vôùi chaát lieäu phong phuù  nhö:
+ Söû duïng nhieàu chaát lieäu maøu: maøu nöôùc, maøu boät, saùp maøu, chì maøu, maøu sôn…
+ Ngoaøi toâ maøu ta coù theå söû duïng giaáy maøu ñeå xeù daùn (nhöõng maûng giaáy maøu thuû coâng hoaëc nhöõng maøu treân lòch, baùo…).
+ Duøng nhöõng sôïi len, vải vôùi nhieàu maøu saéc khaùc nhau, söû duïng keo keát dính chuùng laïi thaønh maãu ao thời trang theo yù thích roài duøng hoa khoâ hoaëc hoa nhöïa trang trí theâm taïo söï haáp daãn hôn cho moãi maãu áo thời trang.
+ Duøng nhöõng pheá phaåm khaùc nhö giaáy boùng nhöïa vôùi nhieàu maøu saéc khaùc nhau ñöôïc caét nhoû  roài traûi ñeàu treân maãu ao thời trang vaø cuõng döôïc keát noái baèng keo dính.
          Töông töï nhö theá thì ta coù theå tìm nhieàu loaïi pheá phaåm khaùc ñeå töï laøm  đồ dùng dạy học  cho nhöõng daïng baøi nhö theá naøy ñeå taïo ñöôïc söï kích thích, toø moø saùng taïo ôû moãi học sinh. Vaø ñaëc bieät hôn laø khi taïo daùng maãu thời trang phaûi taïo theo 2 kieåu trang trí ñoù laø kieåu trang trí ñoái xöùng vaø trang trí khoâng ñoái xöùng. Vaäy ñeå taïo ñöôïc 2 kieåu daùng treân thì ñoøi hoûi học sinh phaûi bieát caùch taïo neân giáo viên phaûi veõ minh hoaï trình töï caùc böôùc taïo daùng ñeå học sinh deã vaän duïng hôn khi thöïc haønh.
       - Ngoài học nội dung ở sách giáo khoa học sinh còn phải đọc báo, xem phim tư liệu lịch sử…
        SGK mới còn tăng tranh ảnh minh hoạ cho bài học đặc biệt ở chương trình lớp hình ảnh minh hoạ rất nhiều và giáo viên khai thác tranh ảnh đó cũng là cách làm cho kiến thức bộ môn thêm phong phú và qua tranh ở những phần nội dung bài học, SGK mới còn nêu ra những câu hỏi nhỏ mang tính nâng cao sự hiểu biết của học sinh. Học sinh muốn trả lời được câu hỏi này buộc phải đọc toàn bộ nội dung trước đó mới có thể trả lời được. Giáo viên yêu cầu học sinh soạn bài trước ở nhà từ những câu hỏi nhỏ như vậy và điều này làm cho học sinh nhớ lâu và biết xâu chuỗi sự kiên.
      - Nguyên nhân của tình trạng học kém của học sinh có thể do giáo viên giảng dạy không sát đối tượng, do học sinh không tự giác tích cực, sự chuẩn bị bài ở nhà chưa tốt, đôi khi cũng do sự khiếm khuyết về trí tuệ và thể chất. Trong quá trình dạy học ở phương pháp mới thì học sinh phải chuẩn bị bài trước ở nhà theo câu hỏi của giáo viên đưa ra hoặc đọc trước nội dung bài học, trong tiết học giáo viên chủ yếu giải quyết những vấn đã nêu ra đồng thời đặc các tình huống để học sinh thảo luận trả lời.
       - Khi tiến hành  dạy học theo hình thức hoạt động cả lớp thường là giáo viên đưa ra vấn đề và đặt câu hỏi cho học sinh . Mục đích của việc đặt câu hỏi  cho học sinh  về hiện tượng, sự kiện…câu hỏi đòi hỏi nhớ lại kiến thức cũ có liên quan, đồng thời phải có những tình huống  có vấn đề đòi hỏi mức độ nhận thức cao hơn, tuy nhiên phải biết sắp xếp chúng từ dễ đến khó. Những câu hỏi dễ giáo viên gọi những học sinh trung bình, yếu trả lời không nên để có em thụ động.
      Lập tiến trình khoa học xây dựng kiến thức:
      Các nội dung cơ bản của tiến trình khoa học xây dựng kiến thức bao gồm: kiến thức cần dạy.     
      3.3.Tổ chức triển khai và thực hiện:
Muoán tạo hứng thú cho học tập của học sinh qua việc đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả thì giáo viên cần phải:
       Naém vöõng ñoái töôïng hoïc sinh, taïo ñöôïc nhu caàu hoïc taäp cho caùc em.
Nắm vững chương trình ở các phân môn, từng bài học cụ thể, từng đồ vật, mẫu vật có trong bài và sự chuẩn bị. Trong giờ học giáo viên cần chú ý đến những học sinh không có khả năng năng khiếu, không quá nặng nề, thoải mái vì dạy Mĩ Thuật là một nghệ thuật mà giáo viên dạy Mĩ Thuật cần phải nghệ thuật hơn.
 3.4 Hiệu quả của SKKN
   Trong quá trình dạy học khi tôi đổi mới phương pháp dạy học thì học sinh có hứng thú học tập hơn và qua quá trình khảo sát đã đạt được kết quả có chuyển biến rõ rệt:  
Kết quả học kỳ I năm học 2011 – 2012:
 
Số tt Khối Kết quả khảo sát
Giỏi % Khá % TB%
1 Khối 6   40% 40% 20%
2 Khối 8 30% 50% 20%
 
Kết quả học kỳ II năm học 2011 – 2012:
 
Số tt Khối Kết quả khảo sát
Đạt Chưa đạt
1 Khối 6   100%       /
2 Khối 8 100%       /
PHẦN III : KẾT LUẬN
     1. Kết luận chung
       Qua thực tế giảng dạy trong những năm qua tôi luôn xác định được mục tiêu trong nhà trường THCS, đồng thời cũng hiểu sâu sắc được vai trò của môn Mĩ thuật trong việc giáo dục học sinh phát hiện ra những mặt hạn chế và có một giải pháp nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn Mĩ Thuật. Tôi thấy việc nắm vững phương pháp và cách tổ chức cơ bản về môn Mĩ Thuật cũng như việc xây dựng cho mình một cách tổ chức dạy học vững chắc còn có tìm ra những giải pháp dạy học phù hợp của môn Mĩ Thuật sẽ có tác dụng và ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động dạy và học, giúp cho giáo viên có một định hướng đúng đắn, phù hợp một cách thức tổ chức giờ hợp lý giúp cho học sinh hứng thú tìm hiểu, khám phá thế giới thẩm mĩ một cách say mê, hấp dẫn, góp phần giáo dục nên những con người toàn diện hơn theo 4 mục đích : Đức - Trí - Thể - Mỹ. Nó giúp học sinh hoàn thiện nhân cách có ý thức tu dưỡng, biết yêu thương, quý trọng mọi người, biết hướng tới những tình cảm cao đẹp hơn, từ đó điều chỉnh nên những con người mới với những nhân cách tốt.
    - Muốn giảng dạy tốt môn học trước hết giáo viên phải hiểu được mục đích yêu cầu của môn học từ đó tìm ra cho mình một định hướng giảng dạy đúng đắn.
    - Phải hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ, hiểu biết được mức độ cảm nhận của học sinh về thế giới xung quanh thông qua các bài học.
     - Luôn luôn tôn trọng gần gũi học sinh.
     - Phải có tính kiên trì công tác giảng dạy, khéo léo động viên kịp thời đối với các em.
    - Áp dụng nhiều phương pháp trò chơi, phương pháp thích hợp, không áp đặt đòi hỏi quá cao đối với học sinh để giúp các em yêu thích môn học và học tốt hơn.
    - Trong tiết học luôn tạo không khó vui vẻ thoải mái nhẹ nhàng, thu hút lòng say mê của các em đối với tiết học, môn học.
    - Việc quan trọng yêu cầu của mỗi tiết học là giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng trực quan, trực quan phải đẹp, hấp dẫn để học sinh quan sát.
    - Sử dụng linh hoạt trong phối hợp các phương pháp dạy học thích hợp.
    - Thường xuyên trao đổi để tìm ra phương pháp dạy học thích hợp.
    - Ứng dụng thông tin, phần mềm của công nghệ thông tin vào môn Mĩ Thuật như qua băng đĩa, ... có như vậy chất lượng học tập mới đạt hiệu quả cao.
     Tôi mạnh dạn thực hiện giảng dạy trong những năm học tới. Vì thời gian có hạn nên tôi mới tìm ra được một số giải pháp trên, nhưng tôi sẽ cố gắng hơn nữa để tìm ra một số giải pháp tối ưu hơn, để đóng góp cho nền giáo dục Mĩ Thuật của toàn ngành nói chung và trường THCS Nguyễn Bá Phát nói riêng. Giúp học sinh phát triển toàn diện về “Đức - Trí - Thể - Mỹ”.
     2. Kiến nghị :
          Để cho việc dạy và học môn Mĩ Thuật được tốt hơn, tôi mong các cấp lãnh đạo quan tâm hơn nữa đến việc giảng dạy bộ môn này, và tôi có một số kiến nghị sau :
       - Nhà trường cần có phòng học chức năng đầy đủ  về cơ sở vật chất.
        - Bộ GD& ĐT cần có một số đồ dùng dạy phân môn Mĩ Thuật cụ thể hơn, nhiều hơn.
        - Phụ huynh cần quan tâm đến con em mình nhiều hơn, sát thực hơn đối với việc học Mĩ Thuật của các em, cụ thể là đồ dùng học tập.
        - Giáo viên phải có lòng nhiệt tình, tâm huyết với chuyên môn. Phải thường xuyên sưu tầm, học hỏi kinh nghiệm cũng như mạnh dạn áp dụng những phương pháp mới.
        Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi về việc áp đổi mới pháp dạy học để gây hứng thú học tập cho hoc sinh mà tôi đã áp dụng thành công, tôi rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến của giáo viên hướng  dẫn và các bạn đồng nghiệp .
                                                       Hòa Liên , ngày 26  tháng 11 năm 2012
                                                             Người viết sáng kiến
 
                                                                            Lê Thị Ánh Hồng
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
 - Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học môn mĩ thuật THCS.
  Tác giả: Đàm Luyện, Bạch Ngọc Diệp, Nguyễn Quốc Toản. Năm 2008.
 - Thiết kế phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá.
    Tác giả PGS –TS Đặng Thành Hưng.
  - Mĩ  thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật ( phần 1)
    Tác giả: trần Nguyên Bình, Võ Quốc Thạch, Nguyễn Thị Ngọc Bích.
 
 
 
 
 
MỤC LỤC
PHẦN I. ĐẶT VẤN  ĐỀ:..............................................................................     
1 Lí do chọn đề tài………………………………………………………………  
2. Thực trạng …………………………………………………………………...   
3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………… 
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………
PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……………………………………………….
I. Các Cơ sở lí luận:…………………………………………………………… .  
1.1 Cơ sở lí luận…………………………………………………………………   
1.2 Cơ sở thực tiễn……………………………………………………………….  
II. Thực trạng của vấn đề:……………………………………………………….. .                         2.1Thuận lợi……………………………………………………………………… .
 2.2 Khó khăn………………………………………………………………………
III. Biện pháp, giải pháp thực hiện……………………………………………….
3.1.Cơ sở xuất phát các giải pháp……………………………………………… ..
3.2. Các giải pháp…………………………………………………………………
3.3. Tổ chức và triển khai thực hiện……………………………………………. ..
3.4 Hiệu quả của SKKN………………………………………………………..
PHẦN III. KẾT LUẬN:…………………………………………………………
1. Kết luận chung………………………………………………………………..
2. Kiến nghị……………………………………………………………………..
                                                     PHẦN ĐÁNH GIÁ
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
 

Tác giả bài viết: Lê Thị Ánh Hồng

Tổng số điểm của bài viết là: 19 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Thi Toán trên mạng