16:13 ICT Chủ nhật, 23/11/2014

Trang nhất » Góc GV và HS » Sáng kiến kinh nghiệm

MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CHƯA NGOAN Ở TRONG NHÀ TRƯỜNG THCS NGUYỄN BÁ PHÁT

Thứ tư - 16/01/2013 10:53
Đề tài:
MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
HỌC SINH CHƯA NGOAN Ở TRONG NHÀ TRƯỜNG THCS NGUYỄN BÁ PHÁT
 
Phần mở đầu
I. Bối cảnh đề tài:
Giáo dục đạo đức học sinh là công việc vô cùng nan giải đối với đội ngũ cán bộ giáo viên, đặc biệt là đối với người giáo viên chủ nhiệm lớp. Hiện nay, đạo đức của học sinh có chiều hướng sa sút, một bộ phận không nhỏ học sinh có những biểu hiện chưa ngoan trong học tập và rèn luyện đạo đức. Thậm chí ở một số tỉnh, thành có tội phạm giết người hoặc gây thương tích cho người khác là học sinh. Đó là trình trạng báo động chung hiện nay về bạo lực học đường.
II. Lý do chọn đề tài:
Qua thực tế giảng dạy và làm công tác quản lý ở trường Trung học cơ sở, tôi nhận thấy việc giáo dục học sinh nói chung và giáo dục học sinh chưa ngoan nói riêng vô cùng khó khăn về mọi mặt. Tôi từng băn khoăn, trăn trở: Do đâu mà số học sinh chưa ngoan ở các lớp có chiều hướng tăng? Các kinh nghiệm, các biện pháp tôi đã và đang giáo dục học sinh thời gian qua đã thực sự  hiệu quả? Với tình hình chung hiện nay, phải xử trí thế nào để đạt được mục  tiêu hình thành nhân cách học sinh toàn diện về  Đức - Trí - Thể - Mỹ?
Những năm gần đây, về lý luận cũng như thực tế đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề giáo dục học sinh chưa ngoan. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có sự nghiên cứu đầy đủ để tạo ra sự định hướng thống nhất về hình thức, biện pháp giáo dục có hiệu quả.
Xuất phát từ tình hình thực tế của các nhà trường nói chung, của Trường THCS Nguyễn Bá Phát nói riêng, tôi trình bày một vài phương pháp giáo dục học sinh chưa ngoan ở trường mà bản thân đã tích lũy được trong quá trình công tác, học tập và học hỏi từ đồng nghiệp. Xin được trao đổi cùng đồng nghiệp với mong ước được góp phần vào việc giảm dần số lượng học sinh chưa ngoan, nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là học sinh Trung học cơ sở, tập trung vào học sinh khối 8 và 9. Đây là lứa tuổi tâm sinh lý có sự phát triển và thay đổi khá nhiều.
IV. Mục đích nghiên cứu:
Việc giáo dục nhân cách cho học sinh, đặc biệt là công tác giáo dục học sinh chưa ngoan, là việc làm không thể thành công trong một sớm một chiều, bởi giáo dục là cả một quá trình. Quá trình này phải thực hiện xuyên suốt từ các cấp học: Bậc mầm non là giáo dục lễ giáo, bậc tiểu học là môn đạo đức, bậc trung học là môn giáo dục công dân. Thế nhưng vấn đề đạo đức học sinh hiện nay đang là sự lo lắng, bức xúc của toàn xã hội.
Nhìn lại và so sánh tình hình chung về đạo đức của học sinh những năm 90 cùng với thực tế những năm công tác, tôi nghiên cứu đề tài này nhằm hạn chế số lượng học sinh chưa ngoan. Qua đó góp phần kéo giảm tỷ lệ học sinh vi phạm đạo đức ở nhà trường đến ngoài xã hội. Đồng thời cũng qua nghiên cứu này nhằm nâng cao nghiệp vụ công tác của bản thân và cũng để chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp.
V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
- Vận dụng tư tưởng tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh.
- Sự nhạy bén, linh hoạt trong kết hợp các phương pháp giáo dục học sinh.
- Đặt chữ “Tâm” lên hàng đầu trong giáo dục học sinh.
- Giáo viên chủ nhiệm là “Người bạn lớn” của học sinh.
 
Phần nội dung
 
I. Cơ sở lý luận:
Giáo dục đạo đức học sinh nói chung và giáo dục học sinh chưa ngoan nói riêng là một quá một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm hình thành và bồi dưỡng về hành vi, thói quen, đạo đức, hình thành những nét tính cách của con người mới phù hợp mục đích giáo dục.
Giáo dục đạo đức học sinh đặc biệt giáo dục học sinh chưa ngoan có vị trí hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục ở nhà trường. Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc rất quan trọng”. Do vậy, giáo dục học sinh chưa ngoan giữ vị trí then chốt trong nhà trường. Công tác giáo dục đạo đức tốt sẽ là cơ sở để nâng cao giáo dục toàn diện.
II. Thực trạng của vấn đề:
Đất nước ta đang trong giai đoạn Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, xã hội ngày một phát triển, cuộc sống ngày một hiện đại với bao sự đổi mới. Đặc biệt, đời sống văn hóa, tinh thần được nâng lên với những tiến bộ của công nghệ thông tin toàn cầu.
Song song với những sự phát triển đó, tình hình đạo đức của học sinh ở các tỉnh, thành nói chung và của học sinh ở trường Trung học cơ sở nói riêng cũng có nhiều biến động.
Năm học 2009 - 2010, trường Trung học cơ sở Nguyễn Bá Phát có 927 học sinh, trong đó khối 8 là 230 học sinh, khối 9 là 265 học sinh. Đa số học sinh đều ham học và chăm ngoan, đáp ứng được yêu cầu đào tạo. Bên cạnh đó, vẫn có một bộ phận không nhỏ học sinh chưa ngoan, biểu hiện của sự chưa ngoan ở các em vô cùng phức tạp và đa dạng: Văng tục, chửi thề, không vâng lời cha mẹ, thầy cô, không trung thực, trốn học để chơi game online, gây gỗ đánh nhau, vô lễ với người lớn, luôn có nguy cơ bỏ học, xem thường nội quy trường lớp,…
Xét về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở là lứa tuổi hiếu động và hiếu thắng, nhiều nông nổi do sự phát triển tâm sinh lý chưa hoàn chỉnh, là lứa tuổi đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách. Quá trình hình thành cái mới diễn ra không đồng đều ở các mặt trong mỗi cá nhân.
Ở góc độ chủ quan và khách quan, học sinh chưa ngoan do chịu ảnh hưởng từ những nguyên nhân sau:
1. Nguyễn Bá Phát là xã thuộc địa bàn nông thôn miền núi, đa số gia đình học sinh sống bằng nghề nông, kinh tế chậm phát triển, nhiều cha mẹ học sinh phải đi làm ăn xa, để con em tự quản lý gia đình.
2. Sự phát triển của mạng Internet về nông thôn, nhiều điểm chat, chơi game online mọc lên ở lân cận trường học và trên đường đi học của nhiều học sinh.
3. Nhiều bậc cha mẹ hoặc phải lo làm ăn do kinh tế còn khó khăn hoặc mãi lo làm giàu mà vô tình quên đi việc giáo dục đạo đức cho con, đẩy hết trách nhiệm về phía nhà trường.
4. Một số gia đình phụ huynh có điều kiện nhưng lại nuông chìu con quá mức.
5. Một số học sinh có cha mẹ bất hòa hoặc cha mẹ li thân, li dị, hoặc cha (mẹ) có vợ (chồng) khác,…
6. Một số học sinh kết bạn và đi chơi với các thanh thiếu niên hư hỏng ở bên ngoài nhà trường cộng với sự tác động của những tiêu cực xã hội.
Mục tiêu năm học 2009 - 2010 là đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giáo dục. Nhà trường luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh. Là cán bộ quản lý, vừa làm tổ trưởng tổ chủ nhiệm lớp, cộng với những biểu hiện chưa ngoan của một bộ phận học sinh đã thôi thúc tôi thực hiện đề tài này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung của năm học.
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
Xuất phát từ việc nghiên cứu kỹ về chức năng và nhiệm vụ của người cán bộ quản lý, với những kinh nghiệm đã tích lũy cùng với những hiểu biết về học sinh, đặc biệt là học sinh chưa ngoan, đồng thời kết hợp việc khảo sát học sinh khối 8, 9. Bản tôi đã đúc kết được một số phương pháp giáo dục học sinh chưa ngoan và áp dụng từng bước các phương pháp sau đây vào thực tiễn, tôi đã thu được những kết quả khá khả quan.
1. Tìm hiểu từng đối tượng học sinh:
+ Yêu cầu giáo viên chủ nhiệm lập danh sách học sinh chưa ngoan của lớp và báo cáo thông tin bằng văn bản về cho nhà trường từng em học sinh theo nội dung sau:
Họ và tên học sinh chưa ngoan:
Học lớp :
Hiện ở tại tổ, thôn :
Họ và tên Cha, mẹ ( người đỡ đầu ) nếu có:
Hoàn cảnh gia đình:
Nghề nghiệp của Cha, mẹ:
Cơ quan, nơi làm việc của Cha, mẹ:
Nội dung học sinh chưa ngoan ( ghi cụ thể )
- Sơ yếu lý lịch mà giáo viên chủ nhiệm yêu cầu học sinh ghi đầu năm, chú ý cảm tưởng của từng học sinh.
- Giáo viên chủ nhiệm cũ.
- Các giáo viên bộ môn giảng dạy lớp năm trước.
- Gặp gỡ, trao đổi với học sinh trong các buổi lao động tổng vệ sinh đầu năm.
Việc làm này để bước đầu tìm hiểu, phát hiện các học sinh cốt cán cũng như học sinh chưa ngoan. Từ đó có thể kiện toàn đội ngũ Cán bộ lớp và phát huy các mặt mạnh, các truyền thống tốt đẹp của lớp.
2. Lập kế hoạch cho lớp:
Bản thân tôi yêu cầu Giáo viên chủ nhiệm cùng Cán bộ lớp lập kế hoạch hoạt động của lớp và phổ biến cho lớp sau đó thông qua buổi sinh hoạt lớp, lồng ghép trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Cụ thể là nội dung thi đua của các tổ trong lớp, việc thực hiện nội quy của lớp, quyền và nhiệm vụ của mỗi cá nhân, phát động phong trào thi đua (có sơ kết, tổng kết ở cuối mỗi học kỳ). Các nội dung này bám sát vào nội quy của trường và các nội dung thi đua của tổng phụ trách Đội như xoay quanh việc thực hiện đồng phục, truy bài đầu giờ, thực hiện nội quy trường lớp, rèn luyện tác phong, ngôn phong,…
Sau khi hoàn chỉnh kế hoạch, giáo viên chủ nhiệm phổ biến và hướng dẫn Cán bộ lớp cách làm việc, cách quản lý tổ viên của tổ mình. Nêu rõ nhiệm vụ của từng thành viên trong Cán bộ lớp từ lớp trưởng, lớp phó học tập, lớp phó lao động, lớp phó trật tự, lớp phó văn thể mỹ đến các tổ trưởng, các cán sự bộ môn. Nội dung này cần phổ biến trước tập thể lớp nhằm thể hiện tính công khai, dân chủ trước học sinh. Mặt khác còn nhằm đưa tập thể lớp vào ổn định nề nếp và hơn hết là nhằm giúp các học sinh chưa ngoan phần nào nhận thức được vai trò, nhiệm vụ của mình trong tập thể lớp để từ đó có những hành vi phù hợp hay chỉ mới là ý nghĩ vừa được manh nha.
3. Lập kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan:
Trên cơ sở lý luận, sau khi đã thực hiện được 2 bước nói trên. Bản thân tôi cùng bàn bạc với giáo viên chủ nhiệm vừa vạch ra vừa thực hiện kế hoạch tiếp theo tùy tình hình diễn biến của các học sinh chưa ngoan. Chú ý tập trung vào những việc sau:
a) Cần nắm rõ số lượng học sinh chưa ngoan của lớp.
b) Tìm hiểu kỹ và phân loại học sinh chưa ngoan đầy đủ và chính xác về:
- Hoàn cảnh sống từng học sinh, điều kiện kinh tế gia đình của học sinh, sự quan tâm của cha mẹ, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình,…
- Những đặc điểm thể chất, sinh lý từng học sinh. Thể trạng bình thường hay không.
- Những đặc điểm về tâm lý: khả năng nhận thức, nhu cầu giao tiếp, tình cảm như: cởi mở hay lầm lì, ưu tư, nóng nảy, luôn nghĩ mình bị mọi người “cô lập”, “bỏ rơi”,…
- Nắm được tính cách và hành vi đạo đức từng học sinh: lười học, ba hoa, không trung thực, cách ứng xử với mọi người xung quanh…
- Nắm được sở trường và sở thích của học sinh: khả năng ca hát, bóng đá, bơi lội, chơi game, yêu thích thơ văn,…
- Đặc biệt cần chú trọng đến mối quan hệ của học sinh với những thanh thiếu niên bên ngoài và học sinh chưa ngoan khác trong nhà trường.
 
c) Thực hiện thường xuyên công tác phối hợp:
Cần kết hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: Gia đình - Nhà trường - Xã hội.
- Với phụ huynh: Thường xuyên gặp gỡ và trao đổi cùng phụ huynh bằng nhiều hình thức như: đến thăm nhà học sinh, mời phụ huynh đến trường dự họp, gửi sổ liên lạc giữa gia đình với nhà trường, thậm chí liên lạc qua điện thoại để thông báo mức độ vi phạm, những biểu hiện sai lệch cần được uốn nắn, khắc phục. Nhưng cần lưu ý rằng phải giao tiếp ở một góc độ cởi mở, tâm lý, tế nhị nhưng chân tình, tránh sự dồn dập, gay gắt. Có như vậy mới tạo được với phụ huynh sự tin tưởng và tận tâm hợp tác để giáo dục con em họ tốt hơn.
- Với Ban giám hiệu: Phó hiệu trưởng phụ trách HĐNGLL tham mưu thường xuyên, “trợ giúp” kịp thời cho Hiệu trưởng khi cần thiết nhằm có những giải pháp thiết thực, phù hợp từng thời điểm hoặc đề nghị Ban đại diện CMHS trao đổi riêng với các Phụ huynh và học sinh chưa ngoan xem như là “tạo sự quan tâm của CMHS”, đồng thời cũng cương quyết chỉ đạo P.hiệu trưởng HĐNGLL, TPT đội và GVCN lớp xử lý đối với những trường hợp thường xuyên tái phạm lại lỗi cũ sau nhiều lần đã được xử lý.
- Với tổ chức Đoàn, Đội: Trong các hoạt động vui chơi, giải trí, các hoạt động ngoài giờ, nhiều em học sinh chưa ngoan lại tỏ ra xông xáo, thể hiện sở thích, năng lực của bản thân. Qua đó có thể tùy theo khả năng từng đối tượng mà giao nhiệm vụ, mà phân công để các em cùng tham gia với tập thể. Từ đó, cảm giác bị “cô lập”, bị bỏ rơi của các em sẽ được xóa dần.
- Với giáo viên phụ trách phổ cập: Liên hệ thường xuyên, cùng đi đến thăm nhà học sinh, đặc biệt là các học sinh có nguy cơ bỏ học vì thông thường các học sinh chưa ngoan đều rất dễ dẫn đến kết cục này.
- Với giáo viên bộ môn: Giáo viên bộ môn có một phần trách nhiệm đối với việc giáo dục học sinh chưa ngoan ở các lớp. Khi lên lớp, cần chú ý đến các đối tượng học sinh này, cần tìm cách tạo ra “cơ hội học tập tốt” bằng các câu hỏi dễ hay bài tập đơn giản. Và hãy đừng quên tặng một lời khen khi các em có sự tiến bộ dù rất ít.
- Với giáo viên chủ nhiệm của các lớp: Ở các lớp khác cũng có những học sinh chưa ngoan. Khi lên lớp, người giáo viên chủ nhiệm bấy giờ trở thành người thực hiện trách nhiệm giáo dục học sinh chưa ngoan ở các lớp với tư cách là giáo viên bộ môn. Cần giáo dục tại chỗ và thông báo ngay những biểu hiện chưa ngoan của học sinh đến giáo viên chủ nhiệm của các lớp khác.
d) Phân công, giao nhiệm vụ cho cán bộ lớp:
Hơn cả giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn, Cán bộ lớp là những người có thời gian gần gũi, tiếp xúc với các học sinh chưa ngoan trong lớp nhiều nhất. Do vậy, giao nhiệm vụ cho các thành viên trong cán bộ lớp quan sát và quan tâm, giúp đỡ các học sinh chưa ngoan dưới sự hướng dẫn, giám sát của giáo viên chủ nhiệm là việc làm rất hợp tình hợp lý. Bằng hình thức “Đôi bạn cùng tiến”, học sinh giỏi sẽ nhận trách nhiệm kèm học sinh yếu, cả trong rèn luyện đạo đức. Ở đây đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm phải thật tinh ý, sáng suốt. Thông qua Cán bộ lớp, giáo viên chủ nhiệm càng hiểu rõ hơn về từng đối tượng học sinh, về các học sinh chưa ngoan của lớp.
4. Thực hiện kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan:
Sau khi GVCN các lớp lập danh sách các em học sinh chưa ngoan về cho Ban giám hiệu nhà truờng, bản thân tôi tranh thủ thời gian và tìm hiểu rõ từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình để đề ra biện pháp giáo dục thích hợp từng em học sinh cụ thể, đồng thời thường xuyên thực hiện công tác phối hợp với GVCN lớp việc giáo dục học sinh chưa ngoan. Để kế hoạch giáo dục học sinh chưa ngoan đạt hiệu quả, bản thân tôi và giáo viên chủ nhiệm cần phải thực hiện các nội dung sau:
4.1 Biết lắng nghe và luôn giữ mối quan hệ gần gũi, thân thiết với học sinh, đặc biệt là với học sinh chưa ngoan, hãy khuyến khích các em nói ra những điều mình nghĩ bằng nhiều cách khác nhau. “Lắng nghe và thấu hiểu” là điều mà các học sinh chưa ngoan thật sự rất cần ở giáo viên chủ nhiệm.
4.2 Biết quan tâm  bằng cách trò chuyện, hỏi thăm hoàn cảnh gia đình học sinh, về bạn bè thân của các em, biết được sở thích, cá tính cũng như thái độ, sự lễ phép của học sinh đối với người lớn. Kêu gọi và yêu cầu các học sinh khác trong lớp quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn mình, không nên xem thường hay cô lập các bạn chưa ngoan đó. Dưới sự hỗ trợ của cán bộ lớp, giáo viên chủ nhiệm luôn theo dõi được những biểu hiện hàng ngày của học sinh chưa ngoan, tránh được sự kết luận về vấn đề nào đó thiếu chính xác làm tổn thương đến tâm lý và tình cảm của các em.
4.3 Có uy tín với học sinh và đồng nghiệp về chuyên môn và tư cách đạo đức, tác phong sinh hoạt: Giáo viên có tầm hiểu biết rộng rãi ngoài việc biết tốt bộ môn của mình, bao giờ cũng giải đáp được vấn đề học sinh đang qua tâm thì ảnh hưởng và uy tín của giáo viên sẽ tác động mạnh đến việc giáo dục đạo đức học sinh. Mặt khác, uy tín về tư cách đạo đức của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành ý thức và hành vi của học sinh. Nếu được như vậy, chắc chắn rằng tầm ảnh hưởng của giáo viên chủ nhiệm đối với các học sinh chưa ngoan sẽ không nhỏ.
4.4 Động viên và định hướng: Thông thường các học sinh chưa ngoan không định hướng được mình cần rèn luyện thế nào để giúp ích bản thân và hoàn thành nhiệm vụ học tập. Mặt khác, một trong những nguyên nhân chủ yếu làm học sinh chưa ngoan đều bắt đầu từ sự học kém, dẫn đến bất mãn, chán học rồi bỏ mặt mọi việc. Chính vì vậy giáo viên chủ nhiệm là người giúp học sinh biết định hướng và động viên, khích lệ các em trên tinh thần “Kiến tha lâu cũng đầy tổ”, “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Hãy tìm và tuyên dương những mặt tốt ở các em dù nhỏ thay vì cứ phê bình khi các em sai phạm.
4.5 Là “Người bạn lớn” của học sinh. Chính điều này làm cho học sinh chưa ngoan thấy mình không hề bị “bỏ rơi”, tình cảm thầy trò được hình thành, tạo điều kiện thuận lợi cho những tâm sự, chia sẻ. Khi đó những lời động viên, những định hướng của giáo viên chủ nhiệm sẽ đạt hiệu quả cao.
4.6 Nghiêm khắc với tất cả học sinh, tôn trọng học sinh, xử lý mọi việc công bằng cho dù đó học sinh ngoan hay học sinh chưa ngoan vi phạm. Như thế các học sinh chưa ngoan sẽ cảm thấy mình được tôn trọng như mọi học sinh, khác không thiên vị, không hề “ghét bỏ” mình.
4.7 Vui tính: Ngoài những điều trên, cần phải có óc khôi hài, luôn vui vẻ với mọi người, kể cả học sinh chưa ngoan. Điều này giúp cho học sinh có cảm giác dễ gần với giáo viên, dễ sẻ chia tâm sự, mối quan hệ giữa thầy trò tránh được sự căng thẳng.
4.8 Đặt chữ “Tâm” lên hàng đầu: Người giáo viên được xem là “Kỹ sư tâm hồn”. Chính cái “Tâm” của người giáo viên chủ nhiệm sẽ giúp cho họ có đủ kiên nhẫn để thực hiện hết trách nhiệm của mình. Đó là năng lực để cảm hóa học sinh. Việc dùng nhân cách để giáo dục nhân cách chính là việc người thầy dùng nhân cách của mình để tác động vào học sinh, dạy học sinh bằng chính nhân cách của mình.
4.9 Tổ chức Hội nghị bàn biện pháp giáo dục học sinh chưa ngoan: Trong thời gian qua, bản thân tôi đã tham mưu với Đảng ủy – UBND xã Hòa Liên, trao đổi với cấp ủy chi bộ, ban giám hiệu, chi bộ nhà trường bàn bạc phối hợp với các ban ngành của xã và Ban đại diện CMHS thực hiện công việc cụ thể như sau:
+ Tổ chức hội nghị bàn biện pháp giáo dục học sinh chưa ngoan
( thành phần tham dự: Đại diện đảng ủy, UBND, các ban ngành của xã Hòa Liên, đại diện lãnh đạo Phòng GD&ĐT Hòa Vang, đại diện CMHS, đảng viên của chi bộ, PHHS và tất cả học sinh chưa ngoan )
          + Chương trình hội nghị:
          1/ Tuyên bố lý do
          2/ Giới thiệu đại biểu và khách mời tham dự
          3/ Báo cáo tình hình học sinh vi phạm nội quy nhà trường nói chung và vi phạm của học sinh chưa ngoan nói riêng.
          4/ Ý kiến của Phụ huynh từng em học sinh chưa ngoan và nguyện vọng của học sinh chưa ngoan cũng như phát biểu lời cam kết
          5/ Ý kiến của Ban đại diện CMHS và các ban ngành đoàn thể của xã
          6/ Ý kiến phát biểu của lãnh đạo địa phương và của Phòng GD&ĐT Hòa Vang
          7/ Ban giao học sinh chưa ngoan cho đảng viên nhận trách nhiệm giáo dục. ( Mời PH và HS lên ghi hình lưu niệm với đảng viên nhận giáo dục học sinh )
          8/ Bế mạc
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Thực tế trong công tác giáo dục học sinh chưa ngoan của nhà trường ở các năm trước, việc áp dụng các biện pháp trên đã mang lại những hiệu quả giáo dục nhất định: Đa số học sinh chăm ngoan, lễ phép, vâng lời thầy cô giáo, thực hiện tốt nội quy học sinh. Kết quả hạnh kiểm học sinh qua các năm học như sau:
Năm học 2009 – 2010
+ Học sinh có hạnh kiểm tốt 60.1%.
+ Học sinh có hạnh kiểm khá 32.6%.
+ Học sinh có hạnh kiểm trung bình: 7.3%.
+ Không có học sinh hạnh kiểm yếu.
Năm học 2010 – 2011
+ Học sinh có hạnh kiểm tốt 70.5%.
+ Học sinh có hạnh kiểm khá 25.3%.
+ Học sinh có hạnh kiểm trung bình: 3.7%.
+ Không có học sinh hạnh kiểm yếu.
   Năm học 2011 – 2012
+ Học sinh có hạnh kiểm tốt 75.8%.
+ Học sinh có hạnh kiểm khá 22.5%.
+ Học sinh có hạnh kiểm trung bình: 1.7%.
+ Không có học sinh hạnh kiểm yếu.
 
 
 
Phần kết luận
 
I. Những bài học kinh nghiệm:
Qua thực tế áp dụng, tôi nhận thấy để giáo dục học sinh chưa ngoan ở trong nhà trưòng, giáo viên chủ nhiệm cần:
- Hiểu rõ từng đối tượng học sinh.
- Xây dựng kế hoạch rõ ràng, cụ thể.
- Thực hiện tốt công tác phối hợp.
- Kết hợp tốt ba môi trường giáo dục: Gia đình - Nhà trường - Xã hội.
- Bản thân giáo viên có uy tín về chuyên môn nghiệp vụ lẫn uy tín về đạo đức.
- Tận tâm với nghề. Kiên trì, nhẫn nại trong công tác.
- Lắng nghe, thấu hiểu và là “Người bạn lớn” của học sinh.
 
II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
Sáng kiến kinh nghiệm nhằm định hướng về những hình thức, những biện pháp giáo dục có hiệu quả các đối tượng học sinh chưa ngoan.
Giúp các em hình thành và phát triển nhân cách con người mới, trở thành người có ích cho xã hội.
III. Khả năng ứng dụng, triển khai:
Đề tài này có thể triển khai và cùng thực hiện ở các lớp 8, 9 mở rộng đến các khối lớp trong toàn cấp của bậc Trung học cơ sở. Đề tài này có tính khả thi, sát với thực tế địa phương và nhà trường. Bản thân tôi đã ứng dụng trong năm học qua và đã đạt được hiệu quả đào tạo như nói trên.
IV. Những kiến nghị, đề xuất:
Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp chịu trách nhiệm đồng thời là người tiên phong trong giáo dục đạo đức học sinh chưa ngoan ở lớp. Để thực hiện tốt vai trò, chức năng của người giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm rất cần sự hỗ trợ, hợp tác. Vậy nên:
- Với Ban giám hiệu: Cần tạo điều kiện nhiều hơn nữa trong việc  giúp đỡ, hỗ trợ giáo viên chủ nhiệm xử lý học sinh chưa ngoan vi phạm nhiều lần, có nhiều cuộc trò chuyện, trao đổi riêng với các học sinh chưa ngoan.
- Với phụ huynh học sinh cần quan tâm nhiều hơn nữa đời sống tình cảm, có hiểu biết rõ về diễn biến phát triển tâm sinh lý của con em, thường xuyên liên lạc với nhà trường, nhất là với giáo viên chủ nhiệm.
- Với giáo viên bộ môn và các tổ chức đoàn thể: Tạo cơ hội để các em được thể hiện mình, được trở nên tốt hơn trước tập thể. Cần động viên, khích lệ  kịp thời các học sinh chưa ngoan khi thấy các em có sự chuyển biến tích cực.
Qua đề tài nghiên cứu này, mong quí đồng nghiệp cùng tham khảo, chia sẻ và đóng góp ý kiến để tìm ra giải pháp giáo dục học sinh chưa ngoan hữu hiệu nhất./.
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tài liệu tham khảo:
 
 
1.  Bônđưrep, 1982, Người Giáo viên chủ nhiệm, Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh, 80 trang.
2.  GS Nguyễn Minh Thuyết, “Người thầy – người bạn lớn”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, trang Văn hóa – Giáo dục.
3.  Phạm Thị Hải Anh, Thanh Thủy, “ Giáo dục đạo đức cho học sinh”, “Giáo viên chủ nhiệm – Chiếc cầu nối đa chiều”,  nguồn Giáo dục và Đào tạo online.
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phụ lục 
 
 

 MỘT SỐ CÂU HỎI KHẢO SÁT HỌC SINH KHỐI 8.
( TRÍCH)
Chú ý: Các câu trả lời của các bạn không ảnh hưởng đến việc xếp loại hạnh kiểm và học tập trên lớp mà nhằm góp phần vào phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài khoa học trong giáo dục.
1. Bạn hãy điền vào một số thông tin  dưới đây:
Thông tin cá nhân (có thể không ghi): Họ tên …………………… Lớp……
Sở thích cá nhân:…………………………………………………
Sở trường:……………………………………………………………
Số người trong gia đình:…, là con thứ … trong gia đình:…...,số anh chị em:…
Mơ ước hiện tại:……………………………………………
Mơ ước tương lai:……………………………………………
Học lực năm học trước:………  Hạnh kiểm năm học trước:………
2. Bạn đã bằng lòng với kết quả HL và HK năm trước chưa?
a. Bằng lòng.
b. Chưa bằng lòng.
3. Bạn làm gì vào ngày nghỉ cuối tuần (chủ nhật)?
Ôn bài, đọc sách báo.
Xem phim.
Chơi game.
Trả lời khác: …………
4. Bạn có thường giúp đỡ cha mẹ việc nhà không?
a. Có.
b. Không.
5. Theo bạn việc học tập có quan trọng không?
a. Quan trọng.
b. Không quan trọng.
6. Theo bạn, tập thể lớp của bạn là một tập thể đoàn kết?
a. Phải. Những biểu hiện của sự đoàn kết: ………………………………………………………
b. Không. Những biểu hiện của sự mất đoàn kết: ………………………………………………………
7. Theo bạn quan sát, lớp bạn có bao nhiêu bạn học sinh chưa ngoan?
Nam: …… Nữ: ……
8. Bạn tự xếp mình thuộc diện nào sau đây:
a. Rất ngoan.
b. Ngoan.
c. Chưa ngoan.
9. Bạn nhận thấy bản thân có chăm học không?
a. Có.
b. Không.
10. Bạn thích đi học không?
a. Thích.
b. Không.
11. Bạn hãy nhận xét về tình hình đạo đức hiện nay của HS?
Đa số ngoan.
Đa số ngoan, một số đạo đức sa sút.
d. Trả lời khác: …………
12. Theo bạn, đâu là sự ảnh hưởng lớn nhất đối với đạo đức của HS hiện nay?
a. Gia đình.
b. Nhà trường.
c. Bạn bè.
d. Trả lời khác: …………
13. Thời gian bạn tự học ở nhà là bao nhiêu giờ? 
……….tiếng / ngày.
14. Cha mẹ bạn quan tâm đến bạn như hiện nay đối với bạn là:
a. Đủ.
b. Chưa đủ.
c. Trả lời khác: ……………
15. Thầy cô quan tâm đến bạn như hiện nay đối với bạn là:
a. Đủ.
b. Chưa đủ.
c. Trả lời khác: ……………
16. Bạn cần cha  mẹ quan tâm đến bạn về điều gì nhất?
Học tập.
Tâm lý.
c.  Trả lời khác: ……………
17. Bạn cần thầy cô quan tâm đến bạn về điều gì nhất?
Học tập.
Tâm lý.
c.  Trả lời khác: ……………
18. Bạn cần thầy cô chủ nhiệm  quan tâm đến bạn về điều gì nhất?
Học tập.
Tâm lý.
c.  Trả lời khác: ……………
19. Bạn có cho rằng “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”?
Có.
Không.
20. Bạn hãy chọn các đức tính về một giáo viên chủ nhiệm mà bạn mơ ước sẽ gặp trong tương lai (Gợi ý: Có thể chọn tùy thích nhiều đức tính cùng lúc).
      Đạo đức tác phong tốt, tầm hiểu biết rộng.
      Biết lắng nghe.
      Quan tâm đến HS.
      Là “người bạn lớn” của HS.
      Nghiêm khắc.
      Vui tính.
       Gương mẫu.
      Khó tính.       
      Trả lời khác: ………….Cảm ơn các bạn!
 
 
 THỐNG KÊ KẾT QUẢ KHẢO SÁT HỌC SINH KHỐI 8.
(KẾT QUẢ THỐNG KÊ TỪ 145 PHIẾU KHẢO SÁT)
 
2. Bạn đã bằng lòng với kết quả HL và HK năm trước chưa?
Bằng lòng: 31,7 %
Chưa bằng lòng: 68,3 %
3. Bạn làm gì vào ngày nghỉ cuối tuần (chủ nhật)?
Ôn bài, đọc sách báo: 20 %
Xem phim: 31,8 %
Chơi game: 18,6 %
Trả lời khác: + Đến các lớp học thêm: 7,5%
+ Ôn bài, xem phim: 22,1 %
4. Bạn có thường giúp đỡ cha mẹ việc nhà không?
Có: 67,6 %
Không: 32,4 %
5. Theo bạn việc học tập có quan trọng không?
Quan trọng: 97,2 %
Không quan trọng: 2,8 %
6. Theo bạn, tập thể lớp của bạn là một tập thể đoàn kết?
Phải: 47,6 %.  Những biểu hiện của sự đoàn kết:
+ Giúp đỡ nhau trong học tập.
+ Hòa đồng, cùng tham gia hoạt động tập thể.
Không: 52,4 %. Những biểu hiện của sự mất đoàn kết:
+ Chơi theo nhóm.
+ Đánh nhau, thiếu sự tôn trọng lẫn nhau.
7. Theo bạn quan sát, lớp bạn có bao nhiêu bạn học sinh chưa ngoan?
Nam: 27 HS. Nữ: 06 HS.  (Toàn khối).
8. Bạn tự xếp mình thuộc diện nào sau đây:
Rất ngoan: 22,8 %
Ngoan: 64,1 %
Chưa ngoan: 13,1 %
9. Bạn nhận thấy bản thân có chăm học không?
Có: 55,2 %
Không: 44,8 %
10. Bạn thích đi học không?
Thích: 80,7 %
Không thích: 15,2 %
Không biết: 4,1 %
11. Bạn hãy nhận xét về tình hình đạo đức hiện nay của HS?
Đa số ngoan: 9,7 %
Đa số ngoan, một số đạo đức sa sút: 90,3 %
12. Theo bạn, đâu là sự ảnh hưởng lớn nhất đối với đạo đức của HS hiện nay?
Gia đình: 22,8 %
Nhà trường: 13,1 %
Bạn bè: 18,6 %
Trả lời khác: + Cả  gia đình, nhà trường và bạn bè: 42,1 %
+ Bạn bè và lối sống hiện đại: 3,4 %
13. Thời gian bạn tự học ở nhà là bao nhiêu giờ? 
+  01 tiếng / ngày: 17,2 %                      +  02 tiếng / ngày: 25,5 %
+  03 tiếng / ngày: 35,2 %                      +  04 tiếng / ngày: 22,1 %
14. Cha mẹ bạn quan tâm đến bạn như hiện nay đối với bạn là:
Đủ: 80,7 %
Chưa đủ: 19,3 %
Trả lời khác: 0 %
15. Thầy cô quan tâm đến bạn như hiện nay đối với bạn là:
Đủ: 95,2 %
Chưa đủ: 4,8 %
Trả lời khác: 0 %
16. Bạn cần cha  mẹ quan tâm đến bạn về điều gì nhất?
Học tập:13,1 %
Tâm lý: 13,8 %
Trả lời khác: + Cả học tập và tâm lí: 65,5 %
+ Hiểu sở thích của con: 7,6 %
17. Bạn cần thầy cô quan tâm đến bạn về điều gì nhất?
Học tập: 23,4 %
Tâm lý: 14,5 %
Trả lời khác:  Cả học tập và tâm lí: 62,1 %
18. Bạn cần thầy cô chủ nhiệm  quan tâm đến bạn về điều gì nhất?
Học tập: 28,3 %
Tâm lý:13,1 %
Trả lời khác: + Cả học tập và tâm lí: 52,4 %
+ Khả năng của HS: 6,2 %
19. Bạn có cho rằng “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”?
Có: 78,6 %
Không: 21,4 %
20. Bạn hãy chọn các đức tính về một giáo viên chủ nhiệm mà bạn mơ ước sẽ gặp trong tương lai (Gợi ý: Có thể chọn tùy thích nhiều đức tính cùng lúc).
      Đạo đức tác phong tốt, tầm hiểu biết rộng: 100 %
      Biết “lắng nghe”: 84,8 %
      Quan tâm đến HS: 100 %
      Là “người bạn lớn” của HS: 85,5 %
      Nghiêm khắc: 84,8 %
      Vui tính: 100 %
       Gương mẫu: 100 %
      Khó tính: 1,4 %    
      Trả lời khác:
+ Đối xử công bằng, hiểu tâm lí HS: 80,7 %
       + Bề ngoài tỏ ra rất khó tính nhưng luôn thương yêu, quan tâm HS: 82,1 %
                                                               

 
 
 

Mục lục:
 
Phần mở đầu
I. Bối cảnh đề tài                                                               Trang 1
II. Lý do chọn đề tài                                                                   Trang 1
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu                                  Trang 2
IV. Mục đích nghiên cứu                                                   Trang 2
V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu                                Trang 2
Phần nội dung
I. Cơ sở lí luận                                                                  Trang 2
II. Thực trạng của vấn đề                                                   Trang 3
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề       Trang 4, 5, 6, 7, 8.
IV. Hiệu quả của SKKN                                                    Trang 9
Phần kết luận                                                          
I. Những bài học kinh nghiệm                                             Trang 10
II. Ý nghĩa của SKKN                                                       Trang 10
III. Khả năng ứng dụng, triển khai                                       Trang 10
IV. Những kiến nghị, đề xuất                                              Trang 10
Tài liệu tham khảo                                                           Trang 12
Phụ lục                                                                                 Trang 13,14,
       15,16,17,18.
 
Mục lục                                                                               Trang 19
 
 
 

 

Tác giả bài viết: Nguyễn Quang Hân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Thi Toán trên mạng